Nghe bài viết tại đây:

Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.260km, diện tích vùng biển rộng 1 triệu km2 với các đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khác trên vùng biển Việt Nam.

Đây là nơi sinh trưởng, phát triển của các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, tạo điều kiện cho ngư dân đánh bắt thủy sản, phát triển kinh tế. Biển, các đảo, đá và các bãi cạn, bãi ngầm là chỗ dựa sinh kế của hàng triệu người dân ven biển.

Khi hiểu rõ hậu quả của khai thác hủy diệt như sử dụng thuốc nổ, xung điện, chất độc, lưới mắt nhỏ ngư dân sẽ nhận thức được rằng lợi ích trước mắt không thể bù đắp được thiệt hại về lâu dài đối với môi trường và sinh kế.

"Từ lúc sắm nghề đến bây giờ cũng hơn chục năm rồi, tôi thực hiện đánh bắt vẫn theo sự tuyên truyền của các cán bộ, vùng nào đánh bắt và vùng nào không được đánh bắt. Việc khai thác tận diệt thì không dám làm vì nó hủy diệt, không chỉ bây giờ mà còn cả mai sau”, ông Phạm Văn Chuyển, thuyền trưởng một tàu cá hoạt động trên Vịnh Hạ Long cho biết.

Năng lực sản xuất thủy sản ngày càng phát triển, cả nước hiện có hơn 96.000 tàu, thuyền nghề cá, trong đó, tàu khai thác xa bờ hơn 30.500 chiếc. Hiện có hơn 40 loại nghề đánh bắt hải sản được chia thành 6 nhóm, trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là nghề lưới rê với hơn 33% tổng số tàu thuyền khai thác, kế đến là nhóm nghề lưới kéo 18%, nhóm nghề câu 17%, còn lại là các nhóm nghề lưới vây, chụp mực và các nghề khác...

PGS.TS Vũ Thanh Ca, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu biển và hải đảo, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (nay là Cục Biển và Hải đảo Việt Nam) cho rằng, nếu khai thác tận diệt sẽ làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản.

"Tôi đã nhìn thấy ngư dân ta đánh bắt con ghẹ chỉ bằng đầu ngón tay và con ghẹ đó không thể ăn được bình thường mà họ bán rồi giã ra nấu canh. Đó là sự lãng phí rất lớn, ông dẫn chứng nhiều loài cá như cá tráp, cá mú vẫn có thể lớn được thì con người sử dụng ngư cụ không được phép trong luật để đánh bắt. "Cá đó làm mắm, thức ăn gia súc nhưng khi bảo quản không tốt thì họ chuyển sang làm phân, thiệt hại cực kỳ lớn. Những biện pháp đó làm suy giảm nguồn lợi thủy hải sản".

PGS.TS Vũ Thanh Ca cho rằng, cần tập trung tuyên truyền cho ngư dân hiểu và thực hiện đúng các quy định của Luật Thủy sản 2017, đặc biệt là: không khai thác trong vùng cấm, thời gian cấm để tạo điều kiện cho các loài hải sản sinh sản và phục hồi. Không đánh bắt các loài nằm trong danh mục nguy cấp, quý hiếm, như rùa biển, cá mập voi, hay san hô. Không sử dụng ngư cụ bị cấm, như lưới có kích thước mắt nhỏ hơn quy định, hoặc các hình thức khai thác gây hủy hoại môi trường đáy biển.

Song song đó, cần khuyến khích chuyển đổi nghề cá từ khai thác sang nuôi trồng, chế biến, dịch vụ hậu cần nghề cá bền vững, kết hợp với du lịch sinh thái biển để tăng thu nhập và giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên.

"Có một vấn đề cần phải sâu sát là sinh kế của người dân, nếu chúng ta cấm đánh bắt toàn bộ thì ngư dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Cho nên, Nhà nước phải tìm các giải pháp hỗ trợ người dân tạo sinh kế mới. Sinh kế đó phần nào bù đắp những thiệt hại do tàu thuyền không đi biển", chuyên gia Vũ Thanh Ca nhấn mạnh.

Đồng thời, các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và tổ chức đoàn thể cần đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn, phổ biến pháp luật, kết hợp với kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm vi phạm.

Bên cạnh đó, nhân rộng mô hình “xây dựng tổ ngư dân tự quản”, “tổ ngư dân bảo vệ biển”, phát huy vai trò của cộng đồng trong giám sát và bảo vệ tài nguyên. Nhà nước cũng cần hỗ trợ tín dụng, đào tạo nghề, cung cấp thông tin ngư trường hợp pháp giúp ngư dân ổn định đời sống khi tuân thủ quy định.

Việc vận động ngư dân khai thác hợp pháp, có trách nhiệm không chỉ góp phần khôi phục hệ sinh thái biển, mà còn nâng cao hình ảnh quốc gia trong hội nhập quốc tế, đặc biệt trong việc gỡ “thẻ vàng” IUU (khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định) của Liên minh châu Âu. Quan trọng hơn, đây là bước đi thiết thực để đảm bảo sinh kế bền vững cho ngư dân và bảo vệ tài nguyên biển Việt Nam cho các thế hệ mai sau./.