Chỉ trường chuyên sâu đào tạo bác sĩ, luật sư: nên hay không?
Ủng hộ chủ trương siết đào tạo các ngành chuyên sâu, đặc thù trong đó có ngành y, GS. Trần Diệp Tuấn – Chủ tịch Hội đồng Trường ĐH Y Dược TPHCM cho biết, thời gian qua việc mở mã ngành đào tạo ngành y, đặc biệt là bác sĩ y khoa chưa thật sự chặt chẽ và nghiêm ngặt. Nhiều trường được thành lập mà chưa đảm bảo được chất lượng đào tạo.
“Không phải tất cả nhưng rất nhiều trường đa ngành hiện nay không đảm bảo chất lượng đào tạo bác sĩ y khoa”.
Theo GS Trần Diệp Tuấn, hiện nay việc mở mã ngành tương đối dễ dàng, tiêu chuẩn mở mã ngành được sử dụng chung cho tất cả các ngành. Điều này không phù hợp với ngành y. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn kiểm định cũng không phù hợp với chương trình đào tạo bác sĩ y khoa. Đúng ra, cần phải có bộ chuẩn riêng về chương trình đào tạo bác sĩ y khoa.
Một nguyên nhân nữa khiến chất lượng đào tạo ngành y ở một số trường mới mở không đảm bảo chất lượng, theo ông Tuấn do có rất ít giảng viên cơ hữu, phần lớn là ký hợp đồng với các bác sĩ bệnh viện.
Khẳng định, bác sĩ bệnh viện rất quan trọng trong đào tạo thực hành. Tuy nhiên theo GS Tuấn, với đặc thù đào tạo bác sĩ y khoa, bắt buộc phải có bác sĩ là giảng viên của trường đại học, có chuyên môn và năng lực sư phạm để xây dựng, phát triển năng lực lý luận y học, vận dụng vào thực hành, tạo ra sự thuần thục đúng nghĩa là một bác sĩ. “Nếu như không có những lý luận cơ bản về y học mà chỉ thực hành thuần túy thì rất là khó đặt nền móng kiến thức cho các bác sĩ tương lai”.
GS Trần Diệp Tuấn cho rằng, để tiếp tục đào tạo, những trường này phải được kiểm định chặt chẽ theo chuẩn dành cho đào tạo bác sĩ y khoa. Hiện nay, kiểm định chương trình đào tạo bác sĩ y khoa trên thế giới theo bộ chuẩn riêng, không giống với bộ chuẩn hiện nay mà chúng ta đang áp dụng cho tất cả các ngành, trong đó có ngành y.
Giới hạn ĐH đa ngành đào tạo đặc thù là sai lầm
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, các trường đại học lớn trên thế giới đều tổ chức đào tạo theo hướng liên ngành, xuyên ngành, đa ngành. Hiện nay, bất cứ lĩnh vực nào cũng phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TPHCM cho rằng, chỉ các trường chuyên mới được phép đào tạo các ngành đặc thù là đi ngược xu thế của thời đại.
“Ngay cả ngành y cũng chịu tác động mạnh mẽ của công nghệ. Sắp tới có thể xuất hiện robot mổ từ xa, hay robot chẩn đoán chính xác hơn bác sĩ. Từ đó sẽ hình thành các lĩnh vực như “bác sĩ robot”, “luật sư robot”, có khả năng xử lý dữ liệu và lập luận tốt hơn con người”.
PGS.TS Đỗ Văn Dũng phản biện: nhiều trường hiện nay là trường đa ngành nhưng khi mở ngành, họ đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về giảng viên, cơ sở vật chất và có khả năng phối hợp liên ngành để đào tạo phong phú, đa dạng hơn thì tại sao lại cấm?
Ông Dũng cho rằng, nếu các ngành luật và y chỉ đào tạo trong trường chuyên ngành thì sẽ trở nên lạc hậu và giảm chất lượng trong vòng 10 năm tới vì bị tách rời khỏi các lĩnh vực khác.
Bên cạnh đó, nhà nước đang thúc đẩy tự chủ và xã hội hóa giáo dục đại học. Vì vậy quan điểm này đi ngược lại xu hướng đó, đồng thời thu hẹp cơ hội học tập. Nếu chỉ các trường chuyên sâu mới được đào tạo thì các trường y, trường luật sẽ rất khó đáp ứng đủ nhân lực đáp ứng nhu cầu. Đặc biệt ở các địa phương, nguồn nhân lực này vẫn đang thiếu. Nếu hạn chế số trường được đào tạo thì không thể đủ lực lượng giảng viên đảm bảo chỉ tiêu đào tạo.
Siết chất lượng đào tạo bằng cách nào?
Dù vậy, PGS.TS nhìn thẳng vào thực tế là chất lượng một số cơ sở đào tạo y dược thời gian qua có nhiều vấn đề, nhất là ở một số trường tư. Dù hồ sơ mở ngành đáp ứng yêu cầu, nhưng năng lực đào tạo lại thấp, phần lớn do chất lượng đầu vào kém.
Trong khi các trường y lớn như Y Hà Nội, Y Dược TPHCM tuyển sinh ở mức 27–29 điểm, nhiều trường khác chỉ khoảng 20–25 điểm – sự chênh lệch này là quá lớn. Ông Dũng cho rằng, đầu vào thấp chắc chắn ảnh hưởng đầu ra. Tuy vậy, thay vì cấm các trường đa ngành/không chuyên đào tạo y dược thì cần phải siết chất lượng và nâng chuẩn đầu vào.
PGS.TS Đỗ Văn Dũng nêu thực tế, thời gian qua, có tình trạng một số người không đủ điểm vào ngành y hoặc luật trong nước đã sang nước ngoài học – nơi tuyển sinh rất dễ để thu hút học phí. Sau đó, quay về Việt Nam và học lên thạc sĩ để hợp thức hóa việc công nhận bằng cấp. Điều này rất nguy hiểm.
Vì vậy, ông đề xuất nên áp dụng mô hình ở Mỹ hay Úc để siết chất lượng. Các trường không chuyên vẫn được đào tạo y và luật, nhưng khi ra trường, muốn hành nghề, phải vượt qua kỳ thi chứng chỉ cực kỳ gắt gao.
Ông Dũng ví dụ, ở Mỹ, kỳ thi hành nghề của bác sĩ kéo dài hai ngày; ngày đầu tiên thi liên tục 8 tiếng, ngày thứ hai thi thêm 4 tiếng.
“Nên để các trường được đào tạo nhưng phải áp dụng kỳ thi chứng chỉ hành nghề do tổ chức nghề nghiệp tập trung các bác sĩ giỏi của Bộ Y tế, hoặc Hiệp hội luật sư chủ trì, với độ khó đề rất cao. Khi đó, chất lượng sẽ đảm bảo và các trường cũng sẽ tự động thay đổi để đáp ứng yêu cầu của kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề.
Trong khi đó, GS Trần Diệp Tuấn cho rằng việc thi cấp chứng chỉ hành nghề chỉ là một trong nhiều yếu tố đảm bảo chất lượng. Để siết chất lượng đào tạo các ngành đặc thù nói chung và ngành y nói riêng, việc mở mã ngành cần chặt chẽ, phải có bệnh viện thực hành, giảng viên cơ hữu.
Phải tổ chức kỳ thi quốc gia để đánh giá bác sĩ tốt nghiệp có đạt năng lực tối thiểu trước khi “đụng” tới bệnh nhân. Cùng với đó là kiểm định chương trình đào tạo bác sĩ y khoa theo thông lệ quốc tế, có bộ kiểm định riêng chứ không thể lấy bộ kiểm định chung cho tất cả các ngành để áp dụng cho đào tạo bác sĩ y khoa./.
