Theo TS Nguyễn Khắc Minh, nguyên Trưởng ban quản lý khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, Kiếp Bạc có vị trí địa chính trị quân sự đặc biệt quan trọng, ba phía có núi non trùng điệp bao bọc, trước mặt là Lục Đầu giang - nơi hội tụ của 6 con sông mà dân gian vẫn truyền miệng câu ca cổ: "Đông hướng Sài Sơn thiên lĩnh hội/ Tây Lai tụ thủy cửu Long chầu”.

Ở đây, những ngọn núi chầu về tạo thành 4 long mạch. Long mạch lớn nhất các cụ gọi là Đầu Rồng. Long mạch thứ 2 là Ly (là con Kỳ lân), ngự ở chùa Côn Sơn; Quy là chùa Thanh Mai, Phượng là núi Phượng Hoàng (là nơi thầy giáo Chu Văn An về ở ẩn). Nên 4 long mạch lớn này gọi là Long - Ly - Quy - Phượng ở đất Chí Linh này. Ngoài ra còn 6 con sông, xưa các cụ đặt tên: sông Lục Nam (gọi là sông Minh Đức); sông Thương (gọi là Nhật Đức); sông Cầu (gọi là Nguyệt Đức); sông Đuống (gọi là Thiên Đức). 4 cái đức lớn chầu về khu đền Kiếp Bạc. Hai con sông chở nước đi các cụ gọi là sông Thái Bình - là mang thái bình cho muôn dân, mang giàu có, lương thảo cho dân được no ấm; sông Kinh Thầy - là kinh lý ra biển bảo vệ tổ quốc dành riêng cho đức Thánh Trần. Với địa hình sông, núi như thế nên đất này được gọi là Chí Linh - là rất linh thiêng.

Không những thế, Kiếp Bạc là nơi đã ghi dấu những chiến công lẫy lừng của vua tôi nhà Trần, nơi thể hiện hào khí, trí tuệ, bản lĩnh, tài thao lược và đỉnh cao nghệ thuật quân sự của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Sau khi thực hiện thành công kế sách vườn không nhà trống, buộc giặc phải rút quân về, đầu tháng 2 năm 1285 trên dòng Lục Đầu giang, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã bày thế trận tiêu diệt hàng vạn quân giặc, đánh tan cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông lần thứ 2 tại Vạn Kiếp.

Theo PGS.TS Trần Ngọc Long, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, năm 1285, trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 2, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã viết Hịch tướng sĩ để khích lệ tinh thần, kêu gọi các tướng sĩ đoàn kết, đứng lên đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Hịch tướng sĩ không chỉ thể hiện tinh thần yêu nước mãnh liệt, khát vọng hòa bình mà còn thể hiện tinh thần tướng sĩ trên dưới một lòng và giá trị ấy, tinh thần ấy vẫn nguyên vẹn đến ngày nay.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải cho rằng, nếu như Kiếp Bạc là nơi bồi đắp bản lĩnh, ý chí và hào khí chống giặc ngoại xâm thì Côn Sơn là nơi hun đúc trí tuệ và nhân nghĩa cho các bậc vĩ nhân trong công cuộc hộ quốc. Chính từ Côn Sơn, tư tưởng, tính nhân văn sâu sắc đã thấm dần vào Nguyễn Trãi và phần nào hình thành nên tư tưởng lấy dân làm gốc của ông. Vì thế, trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo, câu đầu tiên Nguyễn Trãi viết: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.

"Trong Bình Ngô Đại cáo Nguyễn Trãi có nói là “họ Hồ chính sự phiền hà”, là cái chính sự làm phiền dân, để mất dân, dân không ủng hộ, đánh mỗi trận thành Đa Bang thất thủ. Trong khi Lê Lợi thì ở rừng núi hàng chục năm, rồi cuối cùng chiến thắng hoàn toàn. Là vì sao? vì dân che chở và đồng hành với Lê Lợi để đòi lại nước. Vì vậy, tư tưởng "Việc nhân nghĩa cốt để yên dân" ấy thì bất cứ một chính quyền nào muốn đứng vững được cũng phải có dân".

Từ đỉnh núi Côn Sơn có thể nhìn về Kiếp Bạc. Hai di tích, hai địa danh lịch sử, hai tinh thần nhưng chung một mạch nguồn. Côn Sơn nơi dựng chí, Kiếp Bạc nơi lập công. Từ quá khứ vọng về hiện tại; từ hào khí quyết chiến, quyết thắng và tinh thần đoàn kết toàn dân của vua tôi nhà Trần đến tư tưởng trị quốc yên dân nhân văn của Nguyễn Trãi... Tất cả hội tụ thành một thông điệp bất biến cho hậu thế: Khi lòng dân yên thì non sông bền, khi niềm tin vững thì đất nước mạnh.