Thực tế cho thấy, do thiếu thông tin, nhiều thí sinh đã chọn nhầm ngành học bởi vậy kéo theo rất nhiều hệ luỵ. Việc thí sinh chọn ngành học theo thị hiếu đám đông làm mất cân đối cơ cấu và chất lượng nhân lực các ngành nghề trong xã hội.
Mới đây, đại diện Bộ GD-ĐT thông tin có khoảng 60-65% học sinh phổ thông lựa chọn tổ hợp khoa học xã hội. Điều này cho thấy nguy cơ thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao khối ngành khoa học, kỹ thuật.
Vậy ngành giáo dục cần định hướng nghề nghiệp thế nào để vừa đúng năng lực người học, vừa đáp ứng được nhu cầu của đất nước? VOV2 có cuộc phỏng vấn GS.TS Bùi Tiến Thành - Trưởng khoa Công trình trường ĐH Giao thông vận tải về vấn đề này.
PV: Nhiều năm qua, việc thí sinh chọn nhầm nghề không phải là hiện tượng hiếm, việc chọn nhầm ngành học, chọn nhầm nghề sẽ dẫn tới hệ lụy gì thưa Giáo sư?
GS.TS Bùi Tiến Thành: Một sinh viên chọn nhầm ngành giống như lên một đoàn tàu sai hướng. Việc chọn nhầm ngành học gây ra nhiều hệ lụy. Hệ lụy đối với người học quá trình học tâm trạng chán nản, kết quả học tập không cao, có thể phải chuyển ngành, chuyển trường, lãng phí thời gian. Nếu có tốt nghiệp và đi làm khó phát huy năng lực, hiệu quả công việc thấp, ít thăng tiến (do không đam mê), giảm chất lượng cuộc sống.
Hệ lụy đối với xã hội: lãng phí chi phí đào tạo, nguồn lực xã hội, mất cân đối nguồn nhân lực, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lao động và sự phát triển bền vững của thị trường lao động.
PV: Đâu là những giải pháp giúp thí sinh có thể chọn đúng ngành học để sau khi học xong được làm đúng nghề mà các em yêu thích ?
GS.TS Bùi Tiến Thành: Để giải quyết gốc rễ, nhà trường không nên khuyên thí sinh chọn ngành "hot", mà cần giúp các em hiểu về "Nguyên lý vận hành của chính mình", hiểu được năng lực cốt lõi trước khi chọn ngành học. Thời gian là tài nguyên hữu hạn và không tái tạo được. Ngoài các giải pháp từ chính bản thân các em, hiểu rõ bản thân và tìm hiểu kĩ thông tin trước khi chọn ngành học.
Từ phía các cơ sở đào tạo cần tăng cường công tác hướng nghiệp sớm và bài bản, cung cấp thông tin ngành nghề đầy đủ và minh bạch, tổ chức hoạt động trải nghiệm và kết nối thực tế, phát triển đội ngũ tư vấn hướng nghiệp chuyên nghiệp, đổi mới phương pháp đào tạo gắn với thực tiễn. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh việc tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đổi mới chương trình đào tạo tiếp cận nhu cầu thực tiễn.
Trước khi chọn một ngành học, người học cần hiểu rõ cấu trúc phần cứng (bản thân). Một giải pháp thực sự phải bắt đầu từ việc định lượng các thông số: Điểm mạnh tự nhiên (Hardwired Talents), Giá trị cốt lõi (Core Values).
Người học cần có tầm nhìn dài hạn: hãy nhìn vào động lực của nguồn nhân lực phát triển 10 năm tới. Ví dụ lĩnh vực đường sắt tốc độ cao, AI trong công trình, vi mạch bán dẫn...
Tại Khoa Công trình, trường ĐH Giao thông vận tải sinh viên được học học phần "Nhập môn ngành" thực tế: Thay chỉ học lý thuyết, khoa tổ chức cho sinh viên đi công trường ngay từ năm nhất để các em "va chạm" với thực tế. Cùng với hệ thống cố vấn học tập, mentor (người dẫn dắt), khoa kết nối sinh viên với các cựu sinh viên thành đạt để xóa bỏ sự mơ hồ về nghề nghiệp.
PV: Theo tinh thần NQ 57 của Bộ chính trị, đất nước ta đang chú trọng phát triển các ngành KHCN, các ngành kỹ thuật mũi nhọn như: trí tuệ nhân tạo, đường sắt tốc độ cao, vi mạch bán dẫn... Tuy nhiên rất nhiều ngành học gần lại được coi là nền móng để có thể phát triển một cách bền vững những ngành này. Quan điểm của giáo sư thế nào?
GSTS Bùi Tiến Thành: Quan điểm này là hoàn toàn xác đáng và mang tính chiến lược dài hạn.
Trước hết, các lĩnh vực mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, đường sắt tốc độ cao hay vi mạch bán dẫn thực chất đều được xây dựng trên nền tảng của nhiều ngành khoa học – kỹ thuật cơ bản. Ví dụ, Trí tuệ nhân tạo không thể phát triển nếu thiếu toán học, khoa học dữ liệu và khoa học máy tính; hay Đường sắt tốc độ cao đòi hỏi nền tảng vững chắc về công trình, điện – điện tử, cơ khí; còn Vi mạch bán dẫn phụ thuộc sâu sắc vào vật lý, hóa học và công nghệ vật liệu.
Vì vậy, những ngành “gần” hoặc “nền móng” như toán ứng dụng, vật lý kỹ thuật, cơ điện tử, kỹ thuật xây dựng công trình giao thông, khoa học vật liệu… tuy không phải lúc nào cũng “hot”, nhưng lại đóng vai trò cốt lõi và không thể thay thế. Nếu thiếu nền tảng này, việc phát triển các ngành mũi nhọn sẽ thiếu chiều sâu, phụ thuộc công nghệ nước ngoài và khó bền vững.
Một điểm quan trọng khác là phát triển bền vững không chỉ cần công nghệ cao mà còn cần hệ sinh thái nhân lực đồng bộ. Nghĩa là phải có cả đội ngũ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, vận hành và bảo trì. Những ngành nền tảng chính là nơi đào tạo lực lượng đông đảo này, giúp “nuôi dưỡng” và duy trì sự phát triển lâu dài của các ngành mũi nhọn.
Từ góc độ định hướng, có thể nói rằng: Ngành mũi nhọn là đầu tàu tạo đột phá, nhưng ngành nền tảng chính là đường ray và nền móng để đầu tàu đó chạy ổn định và lâu dài. Vì vậy, không nên chạy theo “xu hướng nóng” một cách đơn thuần, mà cần nhìn nhận đúng vai trò của các ngành nền tảng. Việc đầu tư đồng thời vào cả hai nhóm ngành – mũi nhọn và nền móng – mới là cách tiếp cận đúng để thực hiện tinh thần của Nghị quyết và phát triển đất nước một cách bền vững.
PV: Với những ngành kỹ thuật truyền thống, cần phải có sự đổi mới cũng như kết hợp liên ngành ra sao để có thể đồng bộ hóa các khối ngành đào tạo giúp người học tiếp thu được lượng kiến thức cần thiết để sau khi tốt nghiệp có thể phối hợp tốt với những lĩnh vực ngành nghề liên quan, tạo sự đồng bộ hóa các lĩnh vực ngành nghề giúp đất nước phát triển nhanh và bền vững thưa Giáo sư?
GS.TS Bùi Tiến Thành: Để các ngành kỹ thuật truyền thống không bị “lạc nhịp” mà trở thành nền tảng vững chắc cho các lĩnh vực mũi nhọn, việc đổi mới cần đi theo hướng liên ngành, linh hoạt và gắn chặt với thực tiễn. Có thể triển khai theo một số định hướng sau: tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng tích hợp; tăng cường các học phần liên ngành và kỹ năng số; đổi mới phương pháp đào tạo theo dự án thực tế; gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp và nhu cầu xã hội; phát triển đội ngũ giảng viên liên ngành và xây dựng tư duy hệ thống cho người học.
Tóm lại, đổi mới không phải là thay thế các ngành kỹ thuật truyền thống, mà là “nâng cấp” chúng bằng công nghệ mới và tư duy liên ngành. Khi các khối ngành được kết nối chặt chẽ, nguồn nhân lực tạo ra sẽ có khả năng phối hợp hiệu quả, góp phần hình thành một hệ sinh thái kỹ thuật đồng bộ – nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Thay vì nhìn một ngành học như một khối cứng nhắc, chúng ta cần nhìn nó như một tập hợp các đơn vị tri thức cơ bản. Các ngành kỹ thuật đều chia sẻ chung các "nguyên tử" như: Toán ứng dụng, Cơ kết cấu, Tư duy Hệ thống,... Đổi mới: Thay đổi cấu trúc chương trình từ "Silo" (các ngành tách biệt) sang dạng "Lego".
Sinh viên ngành Công trình cần có các module về AI học sâu & Cảm biến/sensors để hiểu về Giám sát sức khỏe kết cấu (SHM). Ngược lại, sinh viên Công nghệ thông tin cần module về Cơ học kết cấu nếu muốn lập trình cho robot thi công hoặc hệ thống điều khiển tàu cao tốc. Việc đồng bộ các module nền tảng này giúp người học có chung "ngôn ngữ kỹ thuật", từ đó phối hợp liên ngành tự nhiên sau khi tốt nghiệp.
Một cây cầu chịu tải trọng dựa trên các định luật Newton. Thực tế số hóa là Hiệu suất vận hành và bảo trì cây cầu đó phụ thuộc vào dữ liệu. Giải pháp liên ngành là đào tạo theo mô hình chữ T. Thanh đứng của chữ T là kiến thức chuyên sâu về ngành gốc (Ví dụ: Bê tông tính năng siêu cao - SUPER Concrete). Thanh ngang là các tháp tri thức liên ngành: Kinh tế số, Quản trị rủi ro, Trí tuệ nhân tạo. Sự đồng bộ xảy ra khi thanh ngang của các ngành khác nhau chồng khít lên nhau.
Sự phát triển bền vững của đất nước yêu cầu các giải pháp kỹ thuật phải giải quyết được bài toán kinh tế và môi trường. Giáo dục cần là hình ảnh phản chiếu của nhu cầu thị trường trong 10 năm tới, không phải 10 năm trước. Sinh viên không chỉ học lý thuyết mà trực tiếp tham gia vào quá trình nội địa hóa công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.
Sự đồng bộ không đến từ việc chúng ta gộp các ngành lại làm một, mà đến từ việc chúng ta mở rộng biên độ tư duy của mỗi ngành để chúng tự tìm thấy điểm chạm của nhau.
PV : Xin cảm ơn GS !
