Tác giả vaccine tả lợn châu Phi: Chỉ đi theo số đông thì không làm được điều gì!

[VOV2] - TS Nguyễn Văn Điệp là tác giả vaccine AVAC ASF LIVE, một trong những vaccine thương mại dịch tả lợn châu Phi đầu tiên trên thế giới. Trở về khi đang nghiên cứu sau tiến sĩ tại Nhật Bản, ông cho biết việc phát triển vaccine ASF là một cơ duyên.

Nghe chương trình tại đây:

Giữa năm 2022, Việt Nam công bố sản xuất thành công vaccine dịch tả lợn châu Phi – căn bệnh tồn tại hơn 100 năm và được xem là “bức tường” của khoa học thế giới. Một năm sau, Công ty cổ phần AVAC Việt Nam trở thành một trong những đơn vị đầu tiên tại Việt Nam, cũng như trên toàn cầu, nghiên cứu, sản xuất thành công vaccine thương mại dịch tả lợn châu Phi (ASF).

Theo TS Nguyễn Văn Điệp, Tổng giám đốc Công ty cổ phần AVAC Việt Nam, sau hơn hai năm triển khai, khoảng 6 triệu liều vaccine AVAC ASF LIVE đã được cung ứng, trong đó 5 triệu liều sử dụng trong nước, khoảng 1 triệu liều xuất khẩu sang Philippines, Indonesia và Nigeria.

Hiện, doanh nghiệp đang làm việc với Bộ Nông nghiệp Indonesia để cung cấp thêm đơn hàng, đồng thời chuẩn bị thử nghiệm tại Ấn Độ và hoàn tất các bước cuối tại Malaysia. Tại các địa bàn sử dụng, vaccine được đánh giá an toàn và có hiệu quả.

Tuy vậy, vaccine hiện mới áp dụng cho lợn thịt, trong khi đàn lợn sinh sản chưa được tiêm, khiến tỷ lệ bao phủ chưa cao và chưa hình thành miễn dịch quần thể trên diện rộng. Vì vậy, định hướng tiếp theo của AVAC là mở rộng chỉ định sang lợn nái và lợn giống.

“Chúng tôi không phát triển sản phẩm mới mà tiếp tục đăng ký mở rộng chỉ định cho lợn nái và lợn giống”, ông Điệp cho biết cơ quan thú y đang đánh giá theo quy trình chặt chẽ như một sản phẩm mới và kỳ vọng sẽ được chấp thuận trong năm tới.

“Nút thắt” công nghệ và lời giải

Dịch tả lợn châu Phi từng được xem là bài toán chưa có lời giải trong hơn một thế kỷ, với hàng nghìn nghiên cứu thất bại tính đến thời điểm năm 2022. “Nút thắt” nằm ở công nghệ vaccine.

Trong các hướng tiếp cận, vaccine sống, nhược độc được đánh giá có tiềm năng thương mại cao nhất. Tuy nhiên, để đưa ra thị trường cần đồng thời đáp ứng ba yếu tố: con giống an toàn và có khả năng bảo hộ; nguồn tế bào sản xuất ổn định quy mô công nghiệp; bộ dữ liệu đầy đủ chứng minh hiệu quả, an toàn.

Nhóm nghiên cứu do TS Nguyễn Văn Điệp làm trưởng nhóm đã chủ động được cả ba yếu tố này. Con giống được sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ chuyển giao một số ứng viên virus nhược độc, sau đó tiếp tục “thuần hóa” để đạt tiêu chuẩn vaccine.

Nhóm phát triển dòng tế bào đại thực bào DMAC (Diep’s Macrophage), cho phép virus nhân lên ổn định và sản xuất hàng chục triệu liều vaccine trong thời gian ngắn.

Về dữ liệu, hơn 100 thí nghiệm đã được nhóm nghiên cứu của TS Nguyễn Văn Điệp thực hiện để xây dựng bộ dữ liệu lớn, phục vụ đăng ký và theo dõi sau lưu hành. Theo ông Điệp, đây là một trong những bộ dữ liệu đầy đủ đối với vaccine dịch tả lợn châu Phi nhược độc.

Đáng chú ý, trong quá trình phát triển, thế giới chưa có tiêu chuẩn chung cho loại vaccine này. Đến tháng 6 năm 2025, Tổ chức Thú y thế giới mới đưa ra tiêu chuẩn cơ bản đầu tiên đối với vaccine dịch tả lợn châu Phi sống nhược độc.

Vượt qua cảm giác "độc hành"

Là “kiến trúc sư trưởng” của dự án, TS Nguyễn Văn Điệp cho biết nhóm đối mặt với nhiều thách thức, từ việc con giống ban đầu được chuyển giao chưa đạt độ an toàn như kỳ vọng đến việc thiếu kinh nghiệm quốc tế trong một lĩnh vực còn mới.

Nguồn lực cũng là bài toán lớn khi doanh nghiệp có quy mô nhỏ, phải tính toán kỹ về tài chính, ưu tiên từng hạng mục nghiên cứu, thiết bị và nhân sự. Đội ngũ ban đầu chủ yếu là người trẻ, nhiều người mới ra trường.

Đã có những thời điểm, nhóm nghiên cứu cân nhắc dừng dự án, nhất là khi vaccine chưa đạt độ an toàn như kỳ vọng hoặc phải đáp ứng các yêu cầu kiểm nghiệm rất khắt khe với quy mô lớn. Tuy nhiên, nhóm vẫn kiên định theo đuổi mục tiêu.

Quá trình nghiên cứu vaccine AVAC ASF LIVE, “cha đẻ” của vaccine dịch tả lợn châu Phi mô tả cảm giác “độc hành” thường trực. Sản phẩm mới, gây nhiều tranh cãi, và nghi ngờ. Thậm chí, nhân viên còn ngại chia sẻ với bạn bè về sản phẩm của công ty vì sợ bị nói là “chém gió”.

“Cô độc” là điều bình thường nhưng nếu chỉ đi theo số đông thì không làm được điều gì”, TS Điệp chia sẻ.

Theo TS Điệp, phản ứng ban đầu của người chăn nuôi là thận trọng, thậm chí nghi ngờ. “Ít ai tin Việt Nam có thể làm được vaccine này, cũng giống như tin Việt Nam làm được tên lửa”, ông nói.

Để thuyết phục, doanh nghiệp triển khai các mô hình thử nghiệm quy mô nhỏ, thậm chí bảo lãnh, cam kết đền nếu xảy ra rủi ro do vaccine.

Những hộ chăn nuôi nhỏ xác suất bị dịch rất lớn, có khi 70-80% nên nhiều hộ chăn nuôi quyết định liều. Chiến lược của AVAC là xây dựng những đốm lửa mô hình. Từ đốm lửa đó sẽ lan tỏa ra từ công ty nhỏ, sang công ty lớn.

TS Điệp cho rằng phát triển vaccine là cuộc đua tốc độ cao, mang tính cạnh tranh toàn cầu. “Chúng tôi cạnh tranh với các công ty trên thế giới, nên phải huy động mọi nguồn lực để đưa sản phẩm ra thị trường. Tốc độ là yếu tố sống còn”.

Trong lĩnh vực này, chỉ một số ít sản phẩm đạt chuẩn và được lưu hành. Những sản phẩm ở mức trung bình gần như không có cơ hội.

Với cá nhân ông, động lực đến từ cả niềm tin vào cơ duyên và áp lực. “Từ những thử thách, tôi tin mình được chọn để làm. Còn trên thực tiễn, chúng tôi có những lợi thế nhất định, từ công nghệ, kiến thức đến tư duy phán đoán. Chúng tôi chưa thành công chỉ vì chưa đi hết chặng đường, chứ không phải không thể làm được.

Ngoài ra, chúng tôi không có đường lùi. Phía sau là hàng trăm lao động và uy tín của cá nhân, của doanh nghiệp, đó còn là danh dự nghề nghiệp", TS Nguyễn Văn Điệp nói về lý do kiên định với dự án.

Nhà khoa học trong vai trò quản lý doanh nghiệp

Trước khi về Việt Nam năm 2021, TS Nguyễn Văn Điệp có khoảng 10 năm làm việc tại Nhật Bản. Ông cho biết đã xác định từ sớm sẽ trở về để làm việc trong nước.

“Đi là để trở về. Mình sinh ra ở mảnh đất này, đang khó khăn, được đi học thì phải về phát triển cống hiến. Mình có giỏi thế nào ở nước ngoài vẫn là công dân hạng 2” .

Khi đang làm Postdoc (nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ) nhận được lời mời đầu quân cho AVAC, TS Nguyễn Văn Điệp đã không do dự trở về giữa thời điểm dịch tả lợn châu Phi căng thẳng.

Theo ông, Việt Nam là quốc gia nông nghiệp với nhiều dư địa phát triển. Ngành chăn nuôi lợn giữ vai trò quan trọng khi chiếm khoảng 70% nguồn thực phẩm, đồng thời quy mô đàn lợn thuộc nhóm lớn trên thế giới.

“Đây là một "mảnh đất màu mỡ" cho khoa học – công nghệ ứng dụng”, ông nói, cho rằng doanh nghiệp trong nước chủ yếu vừa và nhỏ nên cơ hội triển khai các ý tưởng khoa học là rất lớn.

Khi trở về AVAC, “việc xây dựng đội ngũ được xem yếu tố cốt lõi, gần như là ‘hơi thở”. TS Điệp cho biết, ban đầu, do chưa có thương hiệu tuyển dụng, công ty chủ yếu tuyển người trẻ, sau đó đào tạo và phân công theo năng lực.

Theo ông, không nhất thiết một đơn vị nghiên cứu phải có nhiều tiến sĩ, mà quan trọng là năng lực tổng hợp, khả năng phối hợp và triển khai thực tế. Phần lớn kinh nghiệm trong quá trình này đến từ tự học, từ thiết kế quy trình sản xuất, thí nghiệm đến công nghệ bảo quản.

Ở vai trò Tổng giám đốc, TS Điệp cho rằng công việc không chỉ là phát triển sản phẩm mà còn cung cấp giải pháp cho khách hàng, từ đó hiểu rõ nhu cầu thị trường để điều chỉnh hướng nghiên cứu.

“Nghiên cứu và thị trường có mối quan hệ hai chiều”, ông nói.

So với trước đây, trách nhiệm lớn hơn khi thất bại không chỉ là mất đề tài mà còn ảnh hưởng đến tài chính và uy tín. Tuy vậy, ông đánh giá vai trò quản lý giúp mở rộng không gian làm việc và tăng tốc độ triển khai.

Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu dự kiến tiếp tục hoàn thiện vaccine hiện tại và phát triển thế hệ mới có khả năng bảo hộ cả chủng cũ và chủng mới của virus.

“Để hoàn thiện trọn vẹn một sản phẩm vaccine, có thể cần thêm 7–10 năm nữa”, TS Điệp nói.

Ông cho biết sau khi đạt mục tiêu này, có thể sẽ giảm dần vai trò quản lý để dành thời gian cho các lĩnh vực khác./.

Phương Lan