Ngô Quyền sinh năm 898, mất năm 944 trong một dòng họ hào trưởng có thế lực ở châu Đường Lâm (nay là làng Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội). Ông còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương, là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam.
Sinh ra và lớn lên trên vùng quê truyền thống anh hùng - quê hương của bố cái đại vương Phùng Hưng nên ngay từ nhỏ Ngô Quyền đã được luyện tập cung kiếm, văn võ song toàn. Ông được Dương Đình Nghệ tin yêu gả con gái và giao trông giữ đất Ái Châu. Tháng 3 năm Đinh Dậu (937) Kiều Công Tiễn phản nghịch giết Dương Đình Nghệ để đoạt chức Tiết Độ Sứ, nên khắp nơi lòng người đều oán ghét. Được tin, Ngô Quyền vô cùng căm giận, liền bí mật kéo quân từ Thanh Hóa ra, đóng quân ở vùng Hải Phòng chiêu mộ thêm binh lực, luyện tập binh sỹ, chờ ngày diệt quân tham bạo.
Nhà sử học Lê Văn Lan cho rằng Ngô Quyền chính là người nhận lĩnh trách nhiệm từ lịch sử và dân tộc giao phó để diệt thù trong, giặc ngoài. Trong bối cảnh ấy, đức Ngô vương Quyền vốn xuất thân là thủ lĩnh địa phương ở miền Đường Lâm bấy giờ vươn dậy thành một thế lực hào trưởng nhưng ở cấp bậc cao hơn. Ngài đã nhân danh vị thế đó để làm sứ mạng của mình vào năm 938, ấy là diệt thù trong (là thế lực của Kiều Công Tiễn) và phá giặc ngoài (là sự xâm lược của nhà Nam Hán mà Kiều Công Tiễn cõng rắn cắn gà nhà).
Năm 938, Ngô Quyền từ vùng Ái Châu đem quân ra đánh Kiều Công Tiễn rửa thù rồi tiến ra cửa biển Bạch Đằng chặn quân xâm lược. Dựa vào thủy triều cùng kế sách cắm cọc lòng sông vây hãm quân giặc, Ngô Quyền đã giành đại thắng trên sông Bạch Đằng.
Theo GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, chiến thắng trên sống Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền đã để lại dư âm vang dội, làm động lực cho các chiến thắng chống quân xâm lược của các triều đại sau này. Tất cả chiến công của các thời kỳ, thời Lý, Trần, Lê đều nhờ vào dư âm của trận Bạch Đằng năm 938. Trận đánh này quá nổi tiếng, quá kiệt xuất nên được lịch sử ghi nhận như là một trận đánh kinh điển đầu tiên không chỉ của lịch sử Việt Nam mà của cả lịch sử quân sự thế giới. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhiều lần khẳng định, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử Việt Nam.
Một dân tộc bị hơn một nghìn năm Bắc thuộc nhưng dưới sự chỉ huy tài tình của Ngô Quyền đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán với thế lực hùng hậu. Trận đánh chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn nhất trong lịch sử các cuộc kháng chiến của dân tộc nhưng vai trò, tác dụng lại vô cùng lớn, Ngô Quyền đã biết chọn ra cách đánh hợp lý nhất, có hiệu quả nhất. Trước thế giặc mạnh, ông một mặt kêu gọi, động viên nhân dân phát huy sức mạnh cố kết cộng đồng và khí thế độc lập của dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp để đối phó với các mũi tiến công của quân xâm lược. Mặt khác, ông chủ trương lợi dụng địa hình hiểm trở của núi rừng, sông nước vùng Đông Bắc bày một thế trận hiểm hóc và tập trung lực lượng mạnh để tiến hành trận chiến lớn, đánh bại quân Nam Hán ngay tại cửa sông Bạch Đằng vào mùa Đông năm 938.
Theo GS.TS Hoàng Anh Tuấn, trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, trận đánh của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đã trở thành biểu tượng của tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí, tự lực, tự cường. Tương quan lực lượng khá là chênh lệch như vậy, chúng ta vẫn lấy ít để thắng nhiều, lấy sự chuẩn bị chưa được dài hơi để thắng sự chuẩn bị tương đối công phu của người Nam Hán. Điều này cho thấy sức mạnh của lòng dân, đây là bài học mà các triều đại về sau áp dụng rất tốt.
Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, bước sang thế kỷ X, lịch sử Việt Nam có một bước ngoặt lớn: Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, tự xưng là Tiết độ sứ, nghĩa là trên danh vẫn tự coi mình như một đại diện của chính quyền nhà Đường, nhưng thực chất Khúc Thừa Dụ tập trung xây dựng chính quyền tự chủ. Chỉ đến khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán xưng vương mới chấm dứt sự lệ thuộc với triều đình Phương Bắc.
Năm 939 sau khi đánh đuổi quân Nam Hán xâm lược, Ngô Quyền đã xưng vương và định đô ở thành Cổ Loa. Việc Ngô Quyền chọn Cổ Loa để định đô có ý nghĩa vô cùng lớn, đó là sự tiếp nối truyền thống An Dương Vương, phục hồi lại quốc thống, tạo ra những bước bản lề cho xã hội Việt Nam thế kỷ X, đóng góp to lớn vào tiến trình lịch sử dân tộc.
Thời kỳ Ngô Quyền chỉ tồn tại từ năm 938 đến năm 965 - một thời gian không dài nhưng đây lại giai đoạn vô cùng quan trọng khi đặt dấu chấm hết cho hơn nghìn năm Bắc thuộc và mở ra thời kỳ trung hưng đất nước.
