Để tiếp tục khẳng định và đề cao vai trò của kinh tế tư nhân, mới đây, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV thông qua Quy định số 224-QĐ/TW với nội dung khuyến khích Đảng viên đầu tư, kinh doanh, làm giàu chính đáng.
Quy định cũng nhấn mạnh tính gương mẫu của Đảng viên trong việc tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức và trách nhiệm xã hội khi tham gia phát triển kinh tế.
Trao đổi với phóng viên VOV2, GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng quy định này là bước tiến lớn về tư duy của Đảng, từ “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện” để Đảng viên làm giàu hợp pháp, chính đáng. Nghe nội dung bàn luận dưới đây.
Bước chuyển từ “cho phép” sang “khuyến khích”
Tháng 8/2006, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Quy định số 15-QĐ/TW về đảng viên làm kinh tế tư nhân. Tinh thần của quy định này là thừa nhận và cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân.
Sau 20 năm triển khai, quy định đã đạt những kết quả tích cực. Báo cáo cho thấy số đảng viên làm kinh tế tư nhân tăng hơn 5 lần, từ hơn 35.000 người năm 2006 lên 187.000 người năm 2026.
Đặc biệt, nhận thức về đảng viên làm kinh tế tư nhân có chuyển biến tích cực; đội ngũ đảng viên, doanh nhân là đảng viên đã có nhiều đóng góp về sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và bảo đảm an sinh xã hội.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, mức độ tham gia của đảng viên vào phát triển kinh tế tư nhân chưa như kỳ vọng.
Nguyên nhân được xác định là do Quy định số 15-QĐ/TW chủ yếu quy định đối với đảng viên ngoài khu vực công tham gia kinh tế tư nhân; nhiều quy định cho đảng viên làm kinh tế tư nhân còn chưa thực sự rõ, chưa phân định đầy đủ quyền, giới hạn và trách nhiệm theo địa vị pháp lý, chức vụ, vị trí công tác. Phương thức quản lý chủ yếu dựa trên hình thức đứng tên, chưa chú trọng đầy đủ quyền kiểm soát, mức độ chi phối, quản lý, điều hành và lợi ích thực tế; cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích chưa được quy định đồng bộ.
Trên cơ sở lý luận, thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh với nội hàm rộng hơn, bám sát hoạt động đầu tư kinh doanh trên thực tiễn và phù hợp với thông lệ quốc tế.
GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam đánh giá một trong những quan điểm nổi bật của Quy định số 224-QĐ/TW là đổi mới tư duy, từ tư “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện” để đảng viên làm giàu hợp pháp, chính đáng, đóng góp cho đất nước, mở rộng sự tham gia của đảng viên trong khu vực công.
“Sự thay đổi về mặt tư duy trong Quy định 224 thể hiện rất rõ, từ cơ chế trước đây là phải xin phép, tức là “xin - cho” sang bây giờ là tạo điều kiện, khuyến khích”, GS.TS. Hoàng Văn Cường chia sẻ.
Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, Quy định 224 chính là cơ hội để những người đảng viên có năng lực, trình độ phát huy tài năng, cống hiến cho quê hương.
“Đảng viên là những người thường có trình độ, tri thức, được đào tạo, có chuyên môn và có kỹ thuật. Không làm kinh tế, họ không phát huy hết được năng lực này, sẽ lãng phí nguồn lực”, GS.TS. Hoàng Văn Cường nêu quan điểm.
Vì thế, theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, Quy định 224 không chỉ đơn thuần là khuyến khích đảng viên làm kinh tế mà thực chất là khơi thông nguồn lực cho phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với kinh tế tư nhân.
Đầu tư, kinh doanh nhưng phải nêu gương về tuân thủ pháp luật.
Quy định số 224-QĐ/TW có tinh thần xuyên suốt là khuyến khích đảng viên làm kinh tế nhưng đồng thời phải nâng cao yêu cầu về đạo đức, kỷ luật và trách nhiệm nêu gương. Đó là đảng viên làm kinh tế phải nêu gương chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng của người lao động; đồng thời góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, củng cố sự gắn bó của nhân dân, người lao động với Đảng và Nhà nước.
Quy định nhấn mạnh yêu cầu việc nhận diện, đánh giá xung đột lợi ích; trách nhiệm của đảng viên khi phát sinh xung đột lợi ích hoặc khi cấp có thẩm quyền phát hiện và yêu cầu; trách nhiệm của cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức liên quan trong chia sẻ, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu, hồ sơ quản lý theo thẩm quyền.
Tựu trung, đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh theo quy định mới trước hết cần tuân thủ nghiêm ngặt Quy định những điều đảng viên không được làm; đồng thời gương mẫu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm với Nhà nước, xã hội, môi trường, người lao động, người tiêu dùng; giữ gìn đạo đức kinh doanh, xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, thực hành kinh doanh có trách nhiệm để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân. Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường đây là thách thức rất lớn với đảng viên khi tham gia phát triển kinh tế tư nhân.
“Khi một đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh sẽ phải chịu nhiều áp lực hơn so với một quần chúng. Bởi vì đảng viên phải đảm bảo sự hài hòa giữa trách nhiệm xã hội với lợi nhuận kinh doanh; đạo đức và sự liêm chính trong kinh doanh cũng phải cao hơn; trách nhiệm xã hội cũng phải giữ vai trò gương mẫu. Như thế, rõ ràng khi tham gia đầu tư, kinh doanh, đảng viên phải nỗ lực nhiều hơn so với quần chúng”, GS Hoàng Văn Cường phân tích.
Thực tế cho thấy một đảng viên làm kinh tế giỏi nhưng nếu vi phạm đạo đức, thiếu trách nhiệm xã hội hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì mọi thành công về kinh tế đều không thể bù đắp cho hành vi vi phạm đó.
GS Hoàng Văn Cường cho rằng, để đảng viên yên tâm tham gia đầu tư, kinh doanh, đồng thời ngăn chặn nguy cơ xung đột lợi ích, trước hết phải có những quy định, phân định rõ những hoạt động nào đảng viên, người quản lý không được làm, những hoạt động nào phải kiểm soát và những hoạt động nào được tham gia kinh doanh tự do.
Ngoài ra, cần thiết kế cơ chế phòng chống xung đột lợi ích theo hướng những người đang quản lý những lĩnh vực có quyền quyết định thì không được tham gia hoạt động kinh doanh vào lĩnh vực đó. Khi tham gia giải quyết việc gì có nguy cơ xung đột lợi ích thì phải tự động xin rút, không tham gia. Đặc biệt, dù đã có quy định nhưng việc quản lý phải theo cơ chế “hậu kiểm”, công khai minh bạch.
