Sáng nay (30/10), Trường ĐH Mở Hà Nội tổ chức Hội thảo quốc gia “Phát triển hệ thống giáo dục mở trong kỷ nguyên số: chính sách và quản trị”.
Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường ĐH Mở Hà Nội nhấn mạnh, trong kỷ nguyên số, giáo dục mở không chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ vào dạy học hay mở rộng các hình thức đào tạo trực tuyến. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng học tập trực tuyến đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động giáo dục. Yêu cầu đặt ra không chỉ là chuyển các phương thức đào tạo truyền thống lên môi trường số mà cần đổi mới mô hình quản trị, cơ chế phối hợp và phương thức cung cấp dịch vụ giáo dục hướng tới một hệ sinh thái học tập linh hoạt, liên thông và phục vụ học tập suốt đời.
Từ thực tiễn hoạt động của Trường Đại học Mở Hà Nội cho thấy, phát triển giáo dục mở và đào tạo từ xa gắn liền với sứ mạng mở rộng cơ hội học tập cho mọi người. Các phương thức học tập linh hoạt tạo điều kiện để người học ở nhiều độ tuổi, trình độ và địa bàn cư trú tiếp cận giáo dục đại học, kết hợp học tập với công việc và tiếp tục hoàn thiện, nâng cao năng lực.
Tuy nhiên, mở rộng cơ hội học tập chỉ có ý nghĩa khi đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương thức quản lý, tăng cường hỗ trợ người học và đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong đánh giá kết quả học tập.
Từ yêu cầu đó, Hội thảo nhìn nhận những vấn đề đang đặt ra đối với sự phát triển của giáo dục mở ở Việt Nam trong bối cảnh mới; nhận diện những vướng mắc về thể chế, chính sách và quản trị. Đồng thời đề xuất các giải pháp có tính khả thi phù hợp với điều kiện của các cơ sở giáo dục và yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
Theo PGS.TS Vũ Thị Tú Anh – Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ GD-ĐT, phát triển hệ thống giáo dục mở là vấn đề có ý nghĩa chiến lược với các nền giáo dục trên thế giới.
Hệ thống đại học mở của Anh được thành lập từ năm 1969, Trường đại học mở Trung Quốc được thành lập từ năm 1979, Trường đại học mở quốc gia Ấn Độ được thành lập từ năm 1985.
Ở Việt Nam, Nghị quyết 29 nhấn mạnh chủ trương phát triển giáo dục mở tại Luật giáo dục. Đặc biệt, Luật giáo dục 2019 nhấn mạnh, hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở liên thông bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Điều này đòi hỏi cần có cách tiếp cận tổng thể, đồng bộ từ thể chế, chính sách đến mô hình quản trị và tổ chức thực hiện.
Bà Tú Anh khẳng định, giáo dục mở không chỉ là đa dạng hóa phương thức đào tạo hay ứng dụng công nghệ, mà còn hướng tới hình thành một hệ thống có tính kết nối liên thông và linh hoạt. Trong đó, người học có nhiều cơ hội tiếp cận giáo dục, lựa chọn lộ trình học tập và tiếp tục học tập suốt đời.
Từ góc độ quản lý nhà nước, bà nhấn mạnh, việc xây dựng và hoàn thiện chính sách cần gắn chặt với thực tiễn, phản ánh đúng nhu cầu, điều kiện và những vấn đề đặt ra trong quá trình tổ chức thực hiện. Chính sách cần có tính khả thi, bảo đảm sự đồng bộ giữa các quy định, đồng thời tạo điều kiện để cơ sở giáo dục chủ động đổi mới, phát huy sáng kiến và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong khuôn khổ pháp luật.
Cùng với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục mở và học tập suốt đời, thời gian qua Bộ GD-ĐT đã ban hành hướng dẫn các cơ sở khai thác tài nguyên học liệu mở.
Phát triển hệ sinh thái giáo dục mở
Tại hội thảo, các chuyên gia tập trung thảo luận nhiều nhóm vấn đề lớn như thể chế và chính sách phát triển hệ thống giáo dục mở; Đổi mới mô hình quản trị và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong hệ thống giáo dục mở; Đổi mới quản lý, quản trị người học và đảm bảo chất lượng trong đào tạo; Quản trị việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phát triển tài nguyên giáo dục mở; Phát triển hệ sinh thái giáo dục suốt đời gắn với nhu cầu của người học và thị trường lao động...
Theo Thạc sĩ Nguyễn Trọng Khánh – Quyền Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Khánh Hòa, trong giáo dục mở, việc tiếp cận không chỉ diễn ra giữa học viên với công nghệ số, giữa học viên với giảng viên hay nhà trường, mà còn cần chú trọng kết nối giữa chính những người học với nhau.
Qua hoạt động liên kết với Trường Đại học Mở Hà Nội, Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Khánh Hòa đã triển khai cách làm này nhiều năm. Qua đó, hình thành cộng đồng cùng học tập, chia sẻ và lan tỏa kiến thức. Trong công tác tuyển sinh, chính các học viên trở thành những người tư vấn, giới thiệu chương trình đào tạo. Cộng đồng học viên còn tạo sự gắn kết thông qua việc hỗ trợ, chia sẻ thông tin về cơ hội việc làm.
Hiện nay, Trường Cao đẳng Nghề Cần Thơ đang liên kết đào tạo với Trường Đại học Mở ở 6 ngành nghề. Trong bối cảnh phát triển hệ thống giáo dục mở trong kỷ nguyên số, ThS. Cao Thị Hồng Tho, Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề Cần Thơ cho rằng, cần xây dựng chương trình hợp tác đào tạo ổn định và lâu dài. Từ rà soát thế mạnh của mỗi đơn vị, khảo sát nhu cầu người học, các trường xây dựng lộ trình liên kết đào tạo cụ thể theo từng năm, gắn với kế hoạch tuyển sinh, nhằm thu hút và gia tăng số lượng người học trong thời gian tới.
Ngoài ra, xây dựng chương trình đào tạo cụ thể, bảo đảm người học khi tham gia liên thông từ trình độ cao đẳng lên đại học được xem xét miễn, giảm một số học phần, mô-đun hoặc tín chỉ phù hợp. Qua đó, rút ngắn thời gian đào tạo, tạo thêm động lực để người học tham gia các chương trình liên kết, góp phần nâng cao hiệu quả tuyển sinh.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh quảng bá chương trình đào tạo, cung cấp thêm thông tin về cơ hội việc làm để người học thấy rõ lợi ích và triển vọng nghề nghiệp sau khi hoàn thành chương trình./.
