Mời các bạn bấm nút nghe nội dung:

Trên hành trình xây dựng và trưởng thành, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã không ngừng phấn đấu, hy sinh đúng như lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Trong giai đoạn mới của thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, có một lực lượng mới của Quân đội ra đời: Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam, nay là Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam được thành lập ngày 27/5/2014.

Lực lượng mũ nồi xanh Việt Nam với tuổi đời hơn 10 năm có thể xem như lực lượng tân binh trong hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vượt qua khó khăn, họ đã hoàn thành nhiệm vụ là một thành viên “có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần thúc đẩy hợp tác đa phương trong quan hệ quốc tế, bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới”.

Biên tập viên Ý Dịu có dịp gặp gỡ vị chỉ huy đầu tiên của lực lượng này, Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng, nguyên Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam.

Ngả rẽ trở thành người lính mũ nồi xanh

Phóng viên: Sang năm 2027, Việt Nam và Liên Hợp Quốc sẽ kỷ niệm 50 năm Việt Nam trở thành Thành viên của Liên Hợp Quốc (tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh). Chúng ta đã đi từ vị thế của một thành viên “được nhận sự viện trợ của Liên Hợp Quốc trở thành vị thế của một quốc gia có những đóng góp tích cực và ngày càng tiêu biểu, đặc biệt từ khi Quân đội Nhân dân Việt Nam cử Lực lượng Gìn giữ hòa bình tham gia các Phái bộ Liên Hợp Quốc;… Và với những đóng góp suốt hơn mười năm qua, lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam đã được Liên Hợp Quốc, bạn bè quốc tế và nhân dân các nước Châu Phi ghi nhận, đánh giá cao, để lại một hình ảnh đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong con mắt bạn bè quốc tế. Là người chỉ huy đầu tiên của lực lượng này, ông có thể khái quát về sự ra đời của binh chủng?

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng: Chúng tôi rất may mắn là những người lính đi đầu từ nghiên cứu cho đến sang thực địa, cho đến là triển khai những sĩ quan quân đội nhân dân đầu tiên. Đây có thể xem như thành công ở giai đoạn mới, phù hợp với Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị cụ thể hóa chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ 11. Bộ Chính trị và Trung ương Đảng có chủ trương mở rộng hoạt động đối ngoại quốc tế, tham gia vào các cơ chế đa phương, kể cả đưa lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế. Quân đội rất vinh dự, dũng cảm khi trở thành lực lượng tiên phong đảm nhận cái nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao.

Kỳ tích này có được còn nhờ Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ đã có những bước đi rất thận trọng. Từ việc sửa đổi Điều 48, Hiến pháp sửa đổi năm 2013, đã đề cập hội nhập quốc tế và tham gia vào các cơ chế đa phương như đưa quân tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình cho cộng đồng quốc tế.

Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ đã có những bước đi, những tính toán rất chặt chẽ. Hình ảnh đọng lại trong tôi về sự nghiêm túc trong nghiên cứu đó là đoàn cán bộ cấp cao liên bộ do đồng chí Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh lúc đó dẫn đầu ngày 23/6/2013 đã có mặt ở Nam Sudan. Trong đoàn có cả đồng chí Tô Lâm - lúc đó là Thứ trưởng Bộ Công an; đồng chí Phan Văn Giang, lúc đó là Phó Tổng tham mưu trưởng; đồng chí Lê Hoài Trung, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao thời điểm đó và đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa lúc đó ở cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Qua đó để thấy rằng chúng ta đã có một sự nghiên cứu thận trọng với những bước đi được tính toán chặt chẽ.

Phóng viên: Trong cuốn Hồi ức “Hành trình vì hòa bình”, cố Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh nhiều lần nhắc đến ông. Và cái tên Hoàng Kim Phụng gần như gắn bó với hành trình xây dựng “một lứa quân nhân mới” - lực lượng mũ nồi xanh Việt Nam từ những ngày đầu tiên với tổ 5 người gồm ông ở vị trí tổ trưởng. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh nói đến “một lứa quân nhân mới”, phải chăng là nói đến công tác cán bộ, nhu cầu cần lựa chọn những sỹ quan phù hợp nhất đối với nhiệm vụ tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc?

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng: Đúng, việc tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc có thể xem như nhiệm vụ không phải riêng với quân đội mà mới mẻ với tất cả các cơ quan khi nghiên cứu về vấn đề này. Lúc đó đặt ra nhiều vấn đề lắm.

Ví dụ như tại sao trong khi đất nước chúng ta còn rất nhiều vùng đói nghèo; trẻ em còn đang khó khăn khi đến trường; miếng cơm manh áo ở vùng cao ở những nơi lụt bão còn đang chưa đảm bảo đầy đủ, tại sao ta phải đi lo cho các nước châu Phi? Hay câu hỏi khác đặt ra lúc đó là đưa quân hoạt động dưới ngọn cờ của Liên Hợp Quốc đồng nghĩa nằm dưới sự chi phối, kiềm tỏa của các thế lực có sức mạnh, thậm chí có thể đi ngược lại với những chủ trương đối ngoại của chúng ta thì sao?...

Hay là có ý kiến cho rằng quân đội ta đã 70 năm không tham gia gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, không tham gia vào cơ chế hoạt động như thế vẫn vẻ vang cơ mà? Liệu đây có phải tư duy đám đông hay không? Tất cả trở thành những dấu hỏi rất lớn lãnh đạo Bộ Quốc phòng lúc đó đặt ra và chúng tôi phải tìm những lời giải đáp.

Điều mà chúng tôi dựa vào để quyết tâm cũng như tham mưu với lãnh đạo cấp trên nằm ở nhu cầu hội nhập quốc tế, đồng thời bám vào chỉ đạo của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 22. Đất nước ta đã thoát khỏi danh sách các nước nghèo mà Liên Hợp Quốc xếp loại, cũng không còn trong chiến tranh. Đất nước ta đã từng được các quốc gia trên thế giới ở Mỹ La-tinh, ở Châu Phi và bạn bè quốc tế giúp đỡ rất nhiều trong các cuộc chiến tranh giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta phải nghĩ tới trách nhiệm của Việt Nam với bạn bè quốc tế. Lúc đó xem lại, trong 10 nước ASEAN, chỉ còn có 3 nước gồm Việt Nam, Lào và Myanmar chưa cử quân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình.

Phóng viên: Chúng tôi biết rằng, ngoài tiếng Anh, ông còn lưu loát cả tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, thật sự rất ấn tượng với một vị tướng với khả năng làm việc trực tiếp bằng 3 ngoại ngữ… trong khi năng lực ngoại ngữ trong Quân đội trong giai đoạn đầu tham gia Hoạt động Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc lại còn rất nhiều hạn chế. Phải chăng đây cũng là một thách thức đối với quá trình hội nhập quốc tế?

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng: Về cá nhân tôi, biết được tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đều do sức ép của công việc qua từng giai đoạn ở từng quốc gia, lãnh thổ, châu lục khác nhau. Và thật sự ngoại ngữ được xem như một trong những nhu cầu tất yếu và đầu tiên để chúng ta có được những con người có thể nghiên cứu, học tập, giao tiếp và để cho bạn hiểu về nền văn hóa Việt Nam.

Ở Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam, sau này là Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam, chúng tôi đề ra một phương châm: “Không có ai không phải dành thời gian hàng ngày để học tiếng Anh”. Và hết giờ làm việc, từ 4h30 cho đến 5h30, 6h chiều, những người đạt chuẩn tiếng Anh cao trong đơn vị làm giáo viên, hướng dẫn lại các bạn ở các trình độ khác nhau. Có những lúc chúng tôi mở đến 3 lớp ngoài giờ để nâng cao năng lực tiếng Anh.

Hiện nay, có thể khẳng định năng lực tiếng Anh của Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam thuộc một trong những cơ quan đứng đầu của quân đội. Và chúng ta hãnh diện khi Cục đã có tới 4 đồng chí thi đỗ và trở thành nhân viên của Liên Hợp Quốc, làm việc tại Tổng hành dinh của Liên Hợp Quốc tại New York, làm việc bằng tiếng Anh. Các đồng chí cũng là những người hỗ trợ chúng ta rất nhiều trong các hoạt động tìm hiểu về Liên Hợp Quốc, có tiếng nói đóng góp hơn cho các nghị quyết của Liên Hợp Quốc.

Phóng viên: Chúng tôi được biết, trước khi ông đảm nhận cương vị là Tùy viên Quốc phòng ở Philippines, thì ông đã từng được Lãnh đạo Bộ Quốc phòng lựa chọn để cử ông đi thành lập Phòng Tùy viên Quốc phòng Việt Nam tại Brazil (Phòng Tùy viên Quốc phòng đầu tiên của Quân đội ta tại địa bàn Nam Mỹ), và đảm nhận nhiệm kỳ (3 năm) là Tùy viên Quốc phòng tại Brazil; và trước đó nữa ông đã từng đảm nhận một nhiệm kỳ (hơn 3 năm) là Phó Tùy viên Quốc phòng Việt Nam tại Hoa Kỳ. Những kinh nghiệm từng có trong đối ngoại quốc phòng trong những năm tháng đó có hỗ trợ được gì nhiều cho ông khi bước vào nhiệm vụ mới?

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng: Tôi cho rằng, dựa trên những kiến thức, kinh nghiệm trong đối ngoại quốc phòng tôi đã có, từ việc học hành, nghiên cứu, tìm hiểu về các đối tác, tham gia các hoạt động ở Đại sứ quán trên cương vị là phó tùy viên quốc phòng tại Mỹ hay là đi mở phòng tùy viên quốc phòng của ta ở Brazil, rồi làm tùy viên quốc phòng ở Philippines giúp tôi tiếp xúc trực tiếp với các đối tác nước ngoài.

Đây cũng là điều kiện để tôi tìm hiểu về việc tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, cũng như các cơ chế đa phương, rồi vai trò của quân đội trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

Lực lượng Mũ nồi xanh Việt Nam, hành trình từ zero tới hero

Phóng viên: Trong hơn 10 năm xây dựng và trưởng thành vừa qua, Lực lượng “Mũ Nồi xanh” Việt Nam đã tạo nên sự khác biệt ở các Phái bộ của Liên Hợp Quốc, xin ông điểm qua những thành tích ấn tượng nhất của lực lượng này?

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng: Một sự khác biệt chúng ta được thế giới, được lãnh đạo Liên Hợp Quốc và được bạn bè quân đội các quốc gia tham gia cùng ở phái bộ nhắc tới và ngưỡng mộ chúng ta, đó là sự gần dân.

"Tôi cho rằng 2 cán bộ đầu tiên đi đã có những tham mưu kịp thời về cho lãnh đạo Bộ Phòng, trực tiếp là lãnh đạo của Cục Gìn giữ Hòa Bình, lúc đấy là đồng chí Hoàng Kim Phụng và cũng dưới sự lãnh đạo của đồng chí đã triển khai được rất nhiều lớp cán bộ tham gia hoạt động Gìn giữ Hòa Bình, đã lan tỏa được hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình", Đại tá Mạc Đức Trọng, Phó Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam.

Ở một số các quốc gia có đội quân nhà nghề, họ làm theo hợp đồng đã ký với Liên Hợp Quốc, 6h sáng mở cửa doanh trại để quân nhân ra ngoài để làm việc và 6h tối họ thu quân. Từ đó đến ngày hôm sau các sĩ quan không ra khỏi doanh trại. Chúng tôi cũng đã nghiên cứu rất kỹ, tham mưu với lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Quân ủy Trung ương việc kế thừa bản sắc nguyên tắc "ba bám" của chiến tranh nhân dân ngày xưa, đã thành công ở các cuộc chiến tranh giải phóng đất nước cũng như bảo vệ Tổ quốc gồm: bám nhiệm vụ, bám địch và bám dân.

Bám dân bên phái bộ ở nước ngoài hoàn toàn khác với việc bám dân trong nước nhưng cũng phải dựa vào đó tạo ra nền tảng để chính họ cung cấp thông tin, hỗ trợ cho chúng ta về an ninh, tin tức và để đảm bảo các nhu cầu khác. Ví dụ như các cháu học sinh bên đó có ít trường lớp lắm. Phần lớn là họ học ở dưới gốc cây. Lực lượng của ta sang đó làm con đường vào trường, xây dựng lớp học.

Bên đó tất cả hàng hóa, nhu yếu phẩm do Liên Hợp Quốc cung cấp. Nhưng ta tự túc được rau xanh. Vì trồng rau ở đó không dễ như ở Việt Nam. Những giọt nước vô cùng khan hiếm, phải dành dụm, thậm chí tắm xong còn tận dụng nước để tưới cây. Hay ta mang những mầm cây, những hạt giống sang để hướng dẫn người dân, đào giếng để người ta có nước dùng.

Phóng viên: Cho đến bây giờ, chặng đường 10 năm đã qua, nhìn lại, bắt đầu từ con số 0, lực lượng gìn giữ hòa bình- những chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam đã thay đổi ngoạn mục cả về chất và lượng ra sao, thưa ông?

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng: Trong giai đoạn đầu tiên hình thành lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc của Việt Nam, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh lúc đó đã giao cho Thứ trưởng Nguyễn Trí Vịnh nguyên tắc 3 KHÔNG: không có lực lượng bởi vì không muốn phình ra biên chế trong quân đội; không có tiền vì không có kinh phí để nuôi thêm một lực lượng mà đi hoạt động từ thiện, từ thiện, hoạt động dưới lá cờ của Liên Hợp Quốc. Và thứ 3 là không có doanh trại, phải tận dụng những cơ sở vật chất đã có trong quân đội.

Từ nguyên tắc 3 KHÔNG, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã yêu cầu chúng tôi phải huy động nguồn lực và vật lực của quốc tế.

Trước mắt, chúng ta chỉ nên tham gia ở hình thức cá nhân. Và tháng 6 năm 2014, 2 đồng chí đầu tiên gồm trung tá Mạc Đức Trọng và trung tá Trần Nam Ngạn đến phái bộ Nam Su Đăng. Cũng để từ đó thăm dò khả năng các lực lượng lớn hơn ở các phái bộ lớn hơn. Đồng thời, chúng tôi cũng đẩy mạnh hoạt động trao đổi với Liên Hợp Quốc, với bạn bè quốc tế, cử thêm các sĩ quan của chúng ta, học tập ở chính các quốc gia đã có kinh nghiệm cũng như họ đã có các trung tâm huấn luyện rất là uy tín.

Và từ hai đồng chí sau đó chúng ta mở rộng sang phái bộ ở Cộng hòa Trung Phi, mở rộng phái bộ UNISFA. Rồi từ cá nhân ở lĩnh vực tham mưu, chúng ta mở rộng ra các cái lĩnh vực khác như quan sát viên quân sự, hậu cần, sĩ quan tác chiến. Hình thức của chúng ta ở đơn vị cấp thấp, tức là bệnh viện giã chiến cấp 2.

Đến năm 2022, chúng ta cử một đơn vị lớn gồm 184 quân nhân của đội công binh số 4 đang triển khai ở phái bộ. Bệnh viện giã chiến cấp 2 số 7 cũng đã vừa triển khai. Lộ trình này tôi cho rằng có sự tính toán, kế thừa những nguyên tắc của việc chỉ đạo chiến tranh ngày xưa ông cha ta đã đúc rút: đi từ nhỏ tới lớn và phải chắc thắng thì mới làm.

Phóng viên: Vâng thưa ông, sau 10 năm xây dựng và trưởng thành, binh chủng tân binh của lực lượng gìn giữ hòa bình đã có những bước phát triển vượt bậc, giải được bài toán nhiều không thuở ban đầu như ông vừa chia sẻ. Trong hồi ký của cố Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh có một cái chia sẻ cá nhân nhưng cũng là câu chuyện có thật về lực lượng của chúng ta: “Ngày đầu chúng tôi nghĩ rất đơn giản. Bệnh viện dã chiến cấp 2 thì bốc ông nào đi chả được, tiêm thuốc với cho uống thuốc chứ có gì đâu?”. Nhưng thực tế yêu cầu của Liên Hợp Quốc lại rất khắt khe, thưa ông?

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng: Bên cạnh những khó khăn về khả năng ngoại ngữ, lực lượng của chúng ta còn phải đối diện với những khó khăn như địa bàn hoạt động ở xa trung tâm, xa dân và xa các cơ sở y tế nên có khi vận chuyển bằng máy bay trực thăng. Yếu tố này hoàn toàn khác ở trong nước.

Hai nữa là yếu tố sắc tộc. Ví dụ như bệnh viện dã chiến cấp 2 của chúng ta ở trong nước thì đôi khi không cần bác sĩ sản khoa. Nhưng ở bên đó, bác sĩ sản khoa vô cùng cần thiết mà lại phải là nữ giới. Trong khi đàm phán với Liên Hợp Quốc, họ cũng đề nghị phải có nữ bác sĩ sản khoa.

Phóng viên: Ở một quốc gia châu Á, việc dám khẳng định sẽ đảm bảo 10% quân nhân trong các đội hình của lực lượng gìn giữ hòa bình là nữ giới, trong khi tỷ lệ bình quân của các nước thời điểm đó mới đạt 6-7% đáng được xem như kì tích nhưng tạo nên một dấu ấn đặc biệt của quân đội nhân dân Việt Nam đúng không thưa ông?

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng: Đó là một trong những điều Liên Hợp Quốc coi như tiêu chí bắt buộc. Nhưng Việt Nam ta đạt tới 15-17% là nữ quân nhân tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc ở cương vị sĩ quan tham mưu, sĩ quan hậu cần, sĩ quan tác chiến, sĩ quan huấn luyện.

Còn ở hình thức đơn vị, ví dụ như quân y, chúng ta đạt tới 19% nữ. Đội công binh của chúng ta luôn luôn đạt 16-17%. Đây đáng được xem như một sự ngưỡng mộ đối với phụ nữ Việt Nam, đồng thời thể hiện một sự dám hy sinh của nữ quân nhân nữ khi biết thu xếp công việc gia đình, để lại cái thiên chức làm mẹ, làm vợ và cũng phải nói rằng phụ nữ trong quân đội chúng ta rất dũng cảm.

Nhiều quốc gia khác không làm được vì phụ nữ ngại tham gia ở những nơi thậm chí nước tắm hàng ngày còn không có, các điều kiện sinh hoạt, điều kiện y tế điều kiện ăn uống hay đơn giản là nắng 45-46 độ mà phải làm việc 8-9-10 tiếng ở bên ngoài trời thì cháy má hồng.

Phóng viên: Ở cương vị Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam, trong quá trình nỗ lực đảm bảo con số 10% nữ quân nhân tham gia lực lượng, cá nhân ông có chia sẻ gì hay giải pháp gì để các chị yên tâm lên đường?

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng: Công tác Đảng, công tác Chính trị vận động nữ quân nhân tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tôi cho rằng then chốt để làm cho các nữ quân nhân của chúng ta hiểu rõ những khó khăn, thách thức ở ngoài địa bàn.

Ngoài ra cũng phải nhắc tới sự động viên của gia đình, của đơn vị và những chính sách chế độ. Ví dụ như sự ủng hộ của Quốc hội chúng ta vừa rồi trong Nghị quyết 130 và thành luật về Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, 100% đại biểu có mặt bỏ phiếu tán thành đã động viên, cổ vũ người ta tham gia. Và nữ quân nhân của chúng ta thực tế làm việc rất có hiệu quả khi họ dùng sự chuyển của phụ nữ để thuyết phục các lực lượng ở các chốt trận vô cùng cứng rắn, nguyên tắc.

Phóng viên: Cá nhân ông nhìn lại, điều gì ông thấy thành công nhất khi rẽ sang một binh chủng tân binh như Cục Gìn giữ hòa bình?

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng: Tôi không dám nói về cá nhân mình nhiều vì có lẽ thành công của lực lượng Gìn giữ hòa bình Việt Nam là nhờ sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, của lãnh đạo Bộ Quốc phòng và của các cấp lãnh đạo. Còn cá nhân tôi, trên cương vị là người chỉ huy đầu tiên của lực lượng, tôi thấy mình đã học hỏi được rất nhiều.

Trong quãng đời hơn 40 năm công tác trong quân đội, tôi luôn luôn gắn bó với hoạt động đối ngoại quốc phòng. Nhưng hơn 10 năm làm việc để cho ra đời và để đưa lực lượng Gìn giữ hòa bình của Việt Nam tham gia ở các phái bộ thấy rằng có sự đồng hành rất tuyệt vời của các sĩ quan của chúng tôi. Bởi vì họ có kiến thức, kinh nghiệm thực tế và có khát vọng được cống hiến cho thời kỳ hội nhập của quân đội ta. Và ở đây, một hình ảnh bộ đội Cụ Hồ tươi mới hơn trước bạn bè quốc tế và cũng là để chúng ta trả nghĩa các dân tộc anh em đã từng giúp đỡ Việt Nam trong quá khứ.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng!

- Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng sinh 1963 tại Kim Sơn, Ninh Bình.

- Năm 1980, chàng trai trẻ Hoàng Kim Phụng vào Quân đội khi trở thành học viên Trường Đại học Ngoại ngữ Quân sự và một năm sau đó được cử sang Cuba đào tạo theo chuyên ngành Chỉ huy Bộ binh cơ giới Khóa 1 của Việt Nam tại Cuba cho năm đến 1985.

- Trải qua những công việc khác nhau trong lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam, trong 3 năm từ 2000 đến 2003, ông giữ cương vị Phó Tùy viên Quốc phòng tại Hoa Kỳ.

- Những kinh nghiệm có được cộng thêm sự tin tưởng từ lãnh đạo Bộ Quốc phòng, năm 2004, ông được Thủ trưởng BQP lựa chọn cử đi Thành lập Phòng Tùy viên Quốc phòng Việt Nam tại Brazil, và đảm nhận cương vị là Tùy viên Quốc phòng nhiệm kỳ 3 năm tại đây.

- Dựa trên năng lực trong lĩnh vực Đối ngoại quốc phòng và khả năng sử dụng đồng thời 3 ngoại ngữ, Lãnh đạo Bộ Quốc phòng cử ông giữ cương vị Phó Cục trưởng Cục 25 từ năm 2008 đến 2012.

- Năm 2012, Ông được cử làm Tùy viên Quốc phòng Việt Nam tại Philippines. Cuối năm 2013, khi đang thực hiện dở nhiệm kỳ công tác 3 năm, ông được điều động về làm Tổ trưởng Nhóm sỹ quan chuẩn bị cho sự ra đời của Lực lượng Gìn giữ hòa bình Việt Nam.

- Từ năm 2014 đến 2018, ông trở thành Giám đốc Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam và bắt đầu đảm đương vị trí Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam từ 2018-2023./.