Mời các bạn bấm nút nghe nội dung:
Khi bàn về từ “mẹ”, TS Đỗ Anh Vũ, chuyên gia ngôn ngữ cho rằng việc bắt đầu bằng chữ “m”, tương đương với nhiều ngôn ngữ khác như “mother” trong tiếng Anh, tiếng Pháp là “mère” còn tiếng Trung lại là “màma” .
“Đứng về mặt ngôn ngữ học, phân tích âm vị, âm tiết sẽ được hình thành từ vị trí cấu tạo. Thế thì chữ “m” nó nằm ở vị trí âm môi, rất dễ dàng trong việc phát âm, từ khi mỗi chúng ta còn là một đứa trẻ. Có nghĩa là mình chỉ mấp máy môi khe khe thôi, không cần phải dùng lực nhiều thì đã có âm “mẹ” rồi. Thế nên là từ mẹ thuộc tiếng gọi vừa thiêng liêng, vừa như bản năng đầu đời của một đứa trẻ cần một hơi ấm, cần dòng sữa”, TS Đỗ Anh Vũ phân tích.
Và đây chính là lý do rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới từ chỉ “mẹ” cũng bắt đầu bằng chữ “m”, là âm vị mở. Và trong tiếng Việt không chỉ có từ mẹ mà còn nhiều từ khác bắt đầu bằng chữ “m”. Ví dụ như từ “má”, “mạ” này, “mế”…
TS Đỗ Anh Vũ cho rằng, từ thực tế này, có một giai đoạn, những người làm sách giáo khoa đã từng đề xuất đưa chữ “m” lên đầu tiên, thay vào vị trí chữ “a” trong bảng chữ cái tiếng Việt.
Theo thống kê còn chưa đầy đủ, tiếng Việt ít nhất có khoảng 20 cách gọi “mẹ” khác nhau từ xưa đến nay.
Có những từ cổ cho đến bây giờ chỉ còn tồn tại trong tục ngữ. Ví dụ như từ “cái” trong “Con dại cái mang” hay từ “nạ” trong “Con có nạ như thiên hạ có vua” hoặc “Quen việc nhà nạ, lạ việc nhà chồng. Miền Bắc thì phổ biến với cách nói là “mẹ”.
Ngoài ra còn có từ “đẻ”, ý là người sinh ra mình. Ở Thái Bình gọi mẹ là “bu”. Đồng bằng sông Hồng ngày xưa gọi là “bầm”, rồi “u”. Ở miền Trung thì có các cách nói như là: “mạ”, “chị cả”, “mế”, “mệ”… Ở miền Nam lại dùng “má này. Ngoài ra còn có từ vay mượn Hán Việt như “thân mẫu”.
Từ “me” cũng được sử dụng tương đương với “mẹ”. Có thể thấy trong thơ của Lưu Trọng Lưu trong bài “Nắng Mới” rất nổi tiếng.
“ Tôi nhớ me tôi thuở thiếu thời,
Lúc người còn sống tôi lên mười”
Sự độc đáo trong cách gọi mẹ còn thể hiện bằng các cách nói giảm, nói tránh như trong trường hợp là “mợ”, là “thím” hoặc gọi thay cho cháu. Ví dụ như gọi mẹ “bà”, hay là “cụ”.
Rất nhiều từ để gọi mẹ cho đến ngày nay ít dùng hoặc chỉ xuất hiện trong văn chương và được xếp vào nhóm từ cổ hoặc phương ngữ. Tức là những từ ít được dùng, dùng đối hạn chế ở trong ngôn ngữ toàn dân như từ “bầm” trong thơ Tố Hữu:
“Bầm ơi có rét không bầm?
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn…”
“Từ xưa đến nay, chúng ta vẫn có một sự phân biệt về sắc thái giữa những từ thuần Việt và từ Hán Việt. Khi dùng từ Hán Việt bao giờ cũng gợi một sắc thái trang trọng, cổ điển, nghiêm cẩn. Ví dụ như từ “thân mẫu” rất phù hợp cho những tác phẩm văn chương cổ hoặc xây dựng không gian, bối cảnh lịch sử”, TS Đỗ Anh Vũ lưu ý.
Từ “mẹ” trong nhiều trường hợp được thay thế bằng từ “cái”. Trong khi đó, từ “cái” trong tiếng Việt là một từ chỉ loại, mang tính chất toàn thể và có thể đứng trước hầu hết tất cả các danh từ.
“Thế có nghĩa là sức sản sinh của “cái” rất lớn. Mình sẽ thấy sự gặp nhau về ngữ nghĩa ở chỗ người mẹ, người phụ nữ sinh ra tất cả”.
Với từ “đẻ” dùng thay cho “mẹ” theo TS Đỗ Anh Vũ thuộc từ thuần Việt. Bản chất thì đây là một động từ biến thành danh từ. Điều này thể hiện sự thú vị của tiếng Việt. Đó là khả năng chuyển loại của từ, diễn ra linh hoạt, thường xuyên và phổ biến. Nhưng đến thời điểm này, từ “đẻ’ ít được dùng, đã lùi về thời quá khứ hoặc chỉ lớp người cao niên vẫn giữ thói quen sử dụng.
Khu vực miền Trung còn xuất hiện việc gọi “mợ”, “mự” hoặc “chị cả” thay cho “mẹ”. Lí giải về điều này, TS Đỗ Anh Vũ cho rằng xuất phát từ việc kiêng cữ của người xưa. Khi điều kiện y tế kém phát triển, tỉ lệ trẻ em sinh ra khó nuôi và mất sớm xảy ra thường xuyên và phổ biến, trong dân gian lưu truyền nhiều mẹo để đứa trẻ dễ nuôi. Ví dụ như đặt tên xấu hoặc không gọi “mẹ” mà thay bằng những từ chỉ các mối quan hệ họ hàng khác như “mợ”/ “mự”, “thím”, “chị”…
Bên cạnh đó, việc gọi mẹ là “chị cả” xuất phát từ một nét văn hóa truyền thống của người Việt. Trong gia đình, con trai cả sẽ được gọi là “anh hai”, có nghĩa “anh cả” thuộc về vai “bố”. Tương đương “chị cả” chính là “mẹ”. Cách thức này được xếp vào nhóm “gọi thay”.
“Gọi thay” còn xảy ra trong trường hợp một người phụ nữ đã lên chức bà nội hay bà ngoại, con gái hoặc con dâu sẽ xưng hô là “bà” thay cho con, không dùng "mẹ" như trước. Đây là điều hết sức bình thường trong ngôn ngữ, trong cách sử dụng, trong thói quen hằng ngày./.
