Tăng mỡ máu - tình trạng phố biến ở phụ nữ mang thai

Mang thai con đầu lòng ở tháng thứ 6, chị Lê Thị Hậu ở Hà Nội đến bệnh viện khám thai định kỳ theo lịch hẹn. Những lần khám trước, thai nhi phát triển bình thường và sức khỏe của chị ổn định. Tuy nhiên, ở lần khám này, kết quả xét nghiệm máu cho thấy chỉ số triglyceride tăng cao khiến chị không khỏi lo lắng.

Tương tự, chị Hoàng Anh ở Hà Nội cũng phát hiện mỡ máu tăng vào những tháng cuối thai kỳ. Trước đó, do quan niệm mang thai phải ăn cho hai người, chị Hoàng Anh ăn uống khá thoải mái. Khi phát hiện mỡ máu tăng, chị bắt đầu chú ý hơn đến chế độ dinh dưỡng, uống sữa tươi không đường, hạn chế đồ dầu mỡ, đồ chiên xào, ưu tiên thịt nạc, cá nạc, rau xanh và trái cây ít đường.

BS Nguyễn Cảnh Chương, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cho biết ở phụ nữ mang thai có sự thay đổi nội tiết làm tăng hai thành phần mỡ máu là cholesterol và triglyceride. Các chất béo này đóng vai trò tham gia vào quá trình xây dựng cơ thể của em bé, trong đó có việc xây dựng não bộ đồng thời cung cấp một phần năng lượng quan trọng cho người mẹ duy trì hoạt động của cơ thể và cung cấp năng lượng cho em bé.Vì vậy, tăng cholesterol và triglyceride trong thai kỳ khá phổ biến, đặc biệt ở quý II và quý III.

“Thông thường, chỉ số triglyceride có thể tăng gần gấp đôi, còn chỉ số cholesterol có thể tăng khoảng 20-30% trong những tháng cuối của thai kỳ. Nếu người mẹ không có bệnh nền liên quan đến tim mạch, tăng huyết áp, đông máu hoặc không bị tăng mỡ máu từ trước khi mang thai thì không cần quá lo ngại. Các chỉ số mỡ máu có thể trở về bình thường sau khi em bé ra đời khoảng 6-8 tuần”, BS Nguyễn Cảnh Chương cho biết.

Mỡ máu tăng bao nhiêu thì trở thành bệnh lý?

BS Nguyễn Cảnh Chương cho biết thêm, trong một số trường hợp, chỉ số mỡ máu tăng quá cao với mức độ gấp nhiều lần so với thông thường thì cần đặc biệt lưu ý. Dấu mốc thường được lấy để đánh giá tình trạng bệnh lý là chỉ số triglyceride tăng lên ở mức 800-1.000 mg/dL.

Mỡ máu tăng cao bất thường là nguy cơ gây tăng huyết áp, tiểu đường thai kỳ. Về lâu dài, tình trạng này dễ dẫn đến các bệnh lý về mạch máu, xơ vữa động mạch và các bệnh lý liên quan đến tình trạng tăng mỡ máu.

“Đối với thai nhi, tình trạng tăng mỡ máu của mẹ thông thường không gây ảnh hưởng trực tiếp. Tuy nhiên, nếu người mẹ xuất hiện các bệnh lý như tăng huyết áp thai kỳ hoặc xơ vữa mạch máu thì thai nhi có thể chịu những ảnh hưởng gián tiếp. Khi đó, tuần hoàn tử cung - rau có thể bị giảm, lượng máu cung cấp cho em bé giảm, từ đó hạn chế sự phát triển của thai. Trong trường hợp tăng huyết áp thai kỳ, thai nhi thậm chí có thể bị chậm tăng trưởng trong tử cung”, BS Nguyễn Cảnh Chương cho biết.

Thai phụ nào có nguy cơ cao tăng mỡ máu trong thai kỳ?

Theo BS Nguyễn Cảnh Chương, những bà mẹ có nguy cơ cao tăng mỡ máu trong thai kỳ là phụ nữ đã bị tăng mỡ máu trước khi mang thai, người thừa cân, béo phì, người bị tiểu đường mạn tính hoặc mắc đái thái đường trong thai kỳ. Các thai phụ có bệnh lý tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật cũng thuộc nhóm nguy cơ cao.

“Các thuốc hạ mỡ máu thường dùng lại chống chỉ định trong thai kỳ. Vì vậy, với những người có nguy cơ cao, cần phát hiện sớm, sàng lọc, dự phòng cũng như quản lý và điều trị các bệnh lý có liên quan thật tốt ngay từ trước khi mang thai. Khi đã mang thai, cần có chế độ dinh dưỡng và vận động phù hợp để hạn chế tình trạng này”, BS Nguyễn Cảnh Chương khuyến cáo.

Với những phụ nữ đang sử dụng thuốc điều trị tăng mỡ máu, trước khi dự định mang thai, việc điều chỉnh thuốc cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ sản khoa và bác sĩ tim mạch. Người bệnh nên dừng các thuốc này khoảng 1-2 tháng trước thời điểm mang thai.

Để kiểm soát mỡ máu và đường huyết trong thai kỳ, theo BS Nguyễn Cảnh Chương, các bà mẹ nên thực hiện chế độ ăn uống hợp lý.

"Mang thai không phải là ăn gấp đôi mà là ăn cho hai người, gồm bà mẹ và em bé. Vì vậy, thai phụ cần có chế độ ăn cân đối, không quá giàu năng lượng nhưng vẫn phải đảm bảo đủ cho cả mẹ và thai nhi. Trong bữa ăn hàng ngày, các bà mẹ nên hạn chế chất béo, tinh bột, đường và muối; đồng thời tăng cường rau xanh, chất xơ, vitamin và các chất đạm phù hợp. Thông thường bà mẹ tăng khoảng 9-12kg là hợp lý. Tăng cân quá ít không tốt, nhưng tăng quá nhiều còn có thể liên quan đến các bệnh lý như tiền sản giật, tiểu đường và tăng huyết áp thai kỳ", BS Nguyễn Cảnh Chương đưa ra lời khuyên.

Mang thai là hành trình nhiều niềm vui nhưng cũng không ít những nỗi lo trước mỗi thay đổi của cơ thể. Do đó, chủ động khám thai, kiểm soát dinh dưỡng và theo dõi các chỉ số như mỡ máu, đường huyết, huyết áp... theo hướng dẫn của bác sĩ sẽ giúp các bà mẹ an tâm hơn trong thai kỳ.