Trong bức tranh văn hóa đa sắc của 54 dân tộc Việt Nam, “tấm danh thiếp” rõ nét nhất của mỗi cộng đồng chính là bộ trang phục họ khoác trên mình. Đó không chỉ là vải vóc, mà là chiều sâu lịch sử và triết lý sống. Tuy nhiên, trước làn sóng du lịch trải nghiệm và thương mại hóa, di sản ấy đang đứng trước ranh giới mong mỏng giữa phát huy bản sắc và nguy cơ biến dạng cội nguồn.
Mỗi nếp áo, đường kim, hoa văn thổ cẩm của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta chưa bao giờ đơn thuần là mảnh vải mặc trên người, mà đó là chiều sâu lịch sử và lòng tự tôn văn hóa truyền thống được chắt chiu qua hàng trăm năm. Trong đời sống đương đại, trang phục truyền thống không chỉ gói gọn nơi bản làng mà đã bước lên nhiều sàn diễn lớn. Hình ảnh Hoa hậu H’Hen Niê tự hào mang thổ cẩm Ê Đê ra sân khấu quốc tế, hay Nghệ nhân ưu tú Mai Thị Hợp đưa sản phẩm dệt Dzèng của người Tà Ôi vươn tầm thế giới đã minh chứng cho sức sống bền bỉ của di sản. Việc gắn bảo tồn trang phục với du lịch cộng đồng vừa giúp tạo sinh kế thoát nghèo cho đồng bào, vừa khẳng định vị thế văn hóa Việt Nam trên bản đồ thời trang.
Thế nhưng, trước sự bùng nổ của du lịch trải nghiệm và thái độ nhìn nhận dễ dãi, di sản ấy dường như đang bị thương mại hóa và bảo tồn sai cách. Tại các vùng di sản nổi tiếng như Sa Pa, Mèo Vạc hay sông Nho Quế, du khách ồ ạt thuê trang phục Tây Tạng, Mông Cổ hay cổ trang Trung Quốc để chụp ảnh check-in. Nhiều bộ đồ được gọi là "bản địa" thì bị đính cườm lấp lánh làm biến dạng bản gốc, thậm chí nam du khách còn quấn khăn Piêu của phụ nữ Thái, mặc váy Mông rồi nhảy nhót, quay video cợt nhả trên mạng xã hội.
Sự thương mại hóa hời hợt này tạo nên những tình huống đắng ngắt, khiến ngay cả hướng dẫn viên du lịch người Việt cũng phải sượng sùng trước câu hỏi của du khách quốc tế: "Không, đây không phải trang phục truyền thống của Việt Nam mà là của nước ngoài. Mấy bạn kia là người Việt Nam và vấn đề nằm ở đó. Họ nên mặc trang phục truyền thống của nước mình nhưng buồn thay, mọi người đã thuê những trang phục nước ngoài để chụp ảnh..."
Không dừng lại ở các điểm du lịch, sự lệch chuẩn còn vươn lên tận nhiều sàn diễn nghệ thuật. Dưới danh nghĩa "cách tân", nhiều bộ trang phục dân tộc bị biến thành sản phẩm cắt xẻ táo bạo, phản cảm. Đau lòng hơn cả là sự xâm phạm thô bạo vào khoảng trời tâm linh khi chiếc khăn Piêu linh thiêng hay những hoa văn vốn chỉ dành riêng cho nghi lễ thờ cúng, tang ma bị thản nhiên "giải phẫu" để in tràn lan lên thảm lau chân, vỏ gối.
"Đừng biện minh bằng từ cách tân hay thời trang để cố tình ngụy biện cho cái sai của mình. Cái gì thuộc về truyền thống, thuộc về văn hóa thì nên giữ. Cách tân phải có chừng mực, chứ nhìn như "Râu ông nọ cắm cằm bà kia" như thế là xúc phạm văn hóa." - Chị Cầm Trang Thơ, Đại diện nhóm giao lưu văn hóa Thái tại Hà Nội nhấn mạnh.
Cùng chung quan điểm, các nhà nghiên cứu văn hóa đưa ra lời cảnh báo gay gắt về tư duy sáng tạo thiếu hiểu biết. TS. Bàn Tuấn Năng, nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc thiểu số, Trưởng ban đại diện nhóm “Người Dao Việt Nam - Gắn kết từ bản sắc" phân tích: "Các nhà sáng tạo mới chỉ nhìn thấy cái "ngọn", tức lớp vỏ vật chất, chứ chưa thấy cái "lõi" của vấn đề. Tại sao người ta lại dùng hoa văn hình quả trám, hoa văn cây thông mà không phải cây chuối, cây tre ? Tất cả đều chứa đựng ký ức lịch sử, ký ức thiên di của tổ tiên. Phải hiểu ngọn nguồn câu chuyện và những điều cấm kỵ thì mới sáng tạo hợp lý, tránh tình trạng làm tổn thương chủ thể văn hóa."
Đáng lo ngại hơn cả sự can thiệp từ bên ngoài chính là thái độ dần xa rời tà áo truyền thống của chính lớp trẻ vùng cao do ưu tiên tính tiện lợi của quần jean, áo phông. Bà Vàng Thị Hoa, người dân tộc Mông ở Lào Cai, trăn trở khi nhận thấy trang phục hiện nay tại bản làng đã biến tấu đến 60%, vải lanh thêu tay bị thay bằng vải công nghiệp dệt máy: "Nhiều bạn trẻ thậm chí không biết mặc thế nào cho đúng, tôi còn phải hướng dẫn. Khi người trẻ không còn mặc, không biết dệt và không hiểu ý nghĩa hoa văn trên tà áo của chính mình, đó chính là sự ngắt kết nối nguy hiểm nhất." Sự đứt gãy tri thức dân gian ấy cảnh báo nguy cơ biến di sản thành một lớp vỏ trang trí không hồn nếu chính chủ nhân của nó ngoảnh mặt quay lưng.
Bảo tồn không có nghĩa là "đóng băng" di sản, nhưng phát triển phải dựa trên sự tôn trọng bản sắc gốc. Để trang phục dân tộc tiếp tục hiện diện tự nhiên trong đời sống đương đại theo tinh thần phát triển Kinh tế văn hóa của Đại hội XIV, các chuyên gia đã đề xuất những giải pháp căn cơ. TS. Chu Thu Hằng, Trường Đại học Văn hóa cho rằng cần sớm thành lập "Ngân hàng dữ liệu họa tiết chuẩn" và triển khai "Bản đồ trang phục số" qua mã QR Code tại các điểm du lịch để du khách nắm rõ xuất xứ, ý nghĩa và quy cách mặc. Song song đó, ThS. Hoàng Anh Đức cũng đề xuất siết chặt quy định, buộc các cơ sở kinh doanh cho thuê đồ du lịch phải đảm bảo tối thiểu 70% trang phục chuẩn mẫu mã địa phương. Ở góc độ phát triển sản phẩm, bà Trần Tuyết Lan, Tổng Giám đốc Craft Link, khẳng định nhà thiết kế cần giữ nguyên giá trị cốt lõi và tính thiêng của hoa văn, chỉ nên cải biên về kiểu dáng, công năng và phải luôn chia sẻ lợi ích với cộng đồng chủ thể.
Những bộ trang phục rực rỡ sắc màu của 54 dân tộc là cả một dải gấm vóc non sông. Giữ gìn bản sắc không thể chỉ dừng lại ở những bức ảnh "check-in" hào nhoáng hay vài ba ngày hội làng mỗi năm. Trang phục chỉ thực sự "sống" khi hơi thở của nó hiện diện trong đời sống thường nhật, để mỗi người mẹ, người chị ở bản xa có thể tự hào sống tốt bằng chính đường kim mũi chỉ của mình, và để trang phục dân tộc thiểu số Việt Nam tự tin bước ra thế giới với đúng vị thế, bản lĩnh và lòng tự tôn dân tộc./.
