Theo ghi nhận của các sử gia, Nguyễn Xí không chỉ là một võ tướng tài ba mà còn là một nhà chính trị lỗi lạc, kiệt xuất, góp phần làm rạng danh vương triều Lê thời kỳ đó. Ông còn là vị tướng thời Lam Sơn. Dưới sự lãnh đạo của Bình Định Vương Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Xí là 3 danh tướng hàng đầu của nghĩa quân Lam Sơn. Trong đó, Nguyễn Xí có mặt từ đầu đến chiến thắng cuối cùng của nghĩa quân Lam Sơn với những đóng góp quan trọng.

Theo các tư liệu lịch sử, Nguyễn Xí sinh năm Đinh Sửu tức năm 1397 tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc, nay là xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An. Tổ phụ của Nguyễn Xí là Nguyễn Hợp, quê ở Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Khoảng đầu thế kỷ 14 cùng với con trai thứ hai là Nguyễn Hội rời quê đến vùng Thượng Xá, Chân Phúc khai dân lập ấp, mở ra nghề làm muối.

Thân phụ của Nguyễn Xí là Nguyễn Hội lấy bà Vũ Thị Hạch sinh được 2 người con trai là Nguyễn Biện và Nguyễn Xí. Thưở đó, 2 cha con Nguyễn Hội và Nguyễn Biện thường chở muối ra bán ở vùng Thanh Hóa ngày nay. Do đó có thân quen với Lê Lợi, khi đó đang là Phụ đạo ở Lam Sơn. Nguyễn Biện trở thành gia nô của gia đình Lê Lợi, rất được tin cẩn. Nguyễn Xí năm lên 9 tuổi vì gặp cảnh cả cha và mẹ đều lần lượt qua đời nên theo anh ra ở với Lê Lợi. Nguyễn Xí đã tỏ ra vũ dũng hơn người nên được Lê Lợi quý như con cháu trong nhà và giao cho quản đội Thiết đột thứ nhất.

Năm 1416, Lê Lợi bắt đầu dấy nghĩa chống giặc Minh xâm lược để cứu nước, cứu dân và đã cùng 18 chiến hữu mở hội thề Lũng Nhai, hai anh em Nguyễn Biện, Nguyễn Xí đều có mặt. Tiếp đó vào đầu năm 1418, ngọn cờ khởi nghĩa cất cao ở Lam Sơn, Nguyễn Biện, Nguyễn Xí chính thức trở thành nghĩa quân, cùng với các chiến hữu lập công đầu trong các trận đánh ở Lạc Thủy, Mường Thôn thuộc thượng nguồn Sông Chu.

Mười năm nếm mật nằm gai, vào sinh ra tử, Nguyễn Xí luôn là vị tướng tiên phong tham gia đánh thắng nhiều trận đánh lớn: Bồ Đằng, Trà Lân, thành Nghệ An, thành Diễn Châu, Tốt Động, Chúc Động, Đông Quan, Xương Giang... Đặc biệt trong trận quyết chiến Chi Lăng - Xương Giang từ đầu tháng 10 đến đầu tháng 11 năm 1427, tướng quân Nguyễn Xí đã cùng tướng Đinh Liệt chỉ huy 3000 quân Thiết Đột phối hợp với các cánh quân của Lê Sát, Lê Nguyên Chính, Lê Vân An đánh tan thành Xương Giang, đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi. Đất nước hoàn toàn giải phóng sau 20 năm chìm đắm dưới ách thống trị của giặc Minh, vang khúc “Bình Ngô đại cáo” khắp non sông.

Không chỉ lập công hiển hách trong các trận chiến của nghĩa quân Lam Sơn, Nguyễn Xí còn có công lớn đối với triều đại nhà Lê với 2 lần khai quốc. Sau chiến thắng, Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Xí trở thành một trong số đệ nhất khai quốc công thần, một vị đại quan trong triều nhà Lê, được phong chức “Long hổ thượng tướng suy trung bảo chính công thần”. Năm Thuận Thiên thứ hai (1429), nhà vua cho khắc biển công thần, khi bàn công, ông đứng vào hàng thứ năm, được phong tước Huyện Hầu. Để thể hiện sự ưu ái đặc biệt cho những người có công lớn trong khởi nghĩa, Lê Lợi đã ban quốc tính cho Nguyễn Xí là Lê Xí. Các sách sử “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Đại Việt thông sử”, “Lịch triều hiến chương loại chí”, “Việt sử tổng vịnh” và các thư tịch khi miêu tả lại quá trình phục hưng nhà Lê đều đã ghi công đầu cho Nguyễn Xí.

Năm 1433, Lê Thái Tổ qua đời, Nguyễn Xí nhận di chiếu cùng các cận thần lập Thái tử Nguyên Long 11 tuổi lên ngôi vua. Và ông trở thành Phụ Nhiếp chính triều đình. Tuy nhiên, sau đó triều đại nhà Lê có thời đoạn khủng hoảng sau cái chết của vị vua trẻ Lê Thái Tông năm 1442 và Lê Nhân Tông lên ngôi khi mới 2 tuổi. Tháng 10 năm 1459, anh trai vua Lê Nhân Tông là Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân mưu phản, đã giết vua tiếm ngôi, đặt niên hiệu là Thiên Hưng. Một số trung thần của vua đều bị giết. Nguyễn Xí phải giả mù, cáo quan về quê. Sau đó, hợp sức cùng với Lê Lăng và Lê Niệm là cháu nội của Lê Lai, lật đổ Lê Nghi Dân vào tháng 6 năm 1460, rồi chọn rước con út của vua Lê Thái Tông là Lê Tư Thành lên ngôi, tức vua Lê Thánh Tông nổi tiếng trong lịch sử nước ta. Có thể nói đây là lần khai quốc thứ 2 của Nguyễn Xí.

Cùng với những chiến công, Cương quốc công Nguyễn Xí còn có vai trò quyết định trong nhiều chính sách tiến bộ như chia quân thành 5 phiên, chỉ để 1 phiên tại ngũ, còn lại cho quân lính về làm ruộng theo chủ trương “động vi binh, tĩnh vi dân”, có nghĩa là khi đất nước có động thì làm lính, khi tĩnh thì làm dân. Hay các chính sách về miễn thuế, miễn dịch phu phen, khuyến khích an dân…

Ghi nhận công lao của Nguyễn Xí, vua Lê Thánh Tông đã ca ngợi đây là người có công “Bình Ngô khai quốc, tịnh nạn trung hưng”. Năm 1464, Nguyễn Xí ốm nặng, vua Lê Thánh Tông sai sứ mang một đạo dụ đến nhà riêng thăm hỏi và biếu 1.000 quan tiền để lo thuốc thang. Trong đạo dụ có đoạn: "Công của khanh, trẫm chưa báo đáp mà bệnh của khanh sao đã trầm trọng. Nghĩ đến nước, cơm cháo khanh phải cố ăn. Lo cho trẫm, thuốc thang khanh phải cố chữa". Ngày 30 tháng 10 năm Ất Dậu (18/11/1465), Nguyễn Xí mất, hưởng thọ 69 tuổi. Vua Lê Thánh Tông ban nghi lễ quốc tang và đưa thi hài về quê an táng. Hai năm sau, năm 1467, vua cho lập đền thờ Nguyễn Xí theo chế độ Quốc lập tức là nhà nước dựng lên và “Quốc tế” nghĩa là “nhà nước tế tự”.

Với triều đình, Nguyễn Xí được công nhận là “bề tôi trung ái” của nhà Lê và được phong tới chức Nhập nội Hữu tướng quốc. Với nhân dân và với hậu thế, ông trở thành vị Thượng phúc thần, được thờ phụng nghiêm cẩn tại Cương Quốc Công Từ (dân gian quen gọi là đền thờ họ Nguyễn Đình) tại xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay.

Đền thờ và lăng mộ của Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí tại xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2020. Hàng năm, lễ hội đền Nguyễn Xí được tổ chức từ ngày 29/1 đến 1/2 (âm lịch) là một trong những lễ hội lớn của xứ Nghệ nhằm tưởng nhớ công đức của Nguyễn Xí. Nhớ ơn người tài hoa, trên quê hương ông nhiều tên núi, tên làng gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Nguyễn Xí như núi Cờ, núi Thiên, núi Voi…