Sau 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã trải qua 2 kỷ nguyên vẻ vang (kỷ nguyên giành độc lập, đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước và kỷ nguyên đổi mới, hội nhập và phát triển), mở ra những giai đoạn lịch sử quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước, dân tộc, được thế giới công nhận; và nay bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Chặng đường 96 năm, Đảng ta đã chứng tỏ một sức sống bền bỉ, bản lĩnh kiên cường và đường lối lãnh đạo đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhân kỷ niệm sự kiện trọng đại này, Tổng Bí thư Tô Lâm có bài viết: "Vững bước dưới cờ Đảng”. Đây chính là lời hiệu triệu chính trị mạnh mẽ tới mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể người dân Việt Nam.
“Ngay sau thành công rực rỡ của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026) với một tinh thần hân hoan đặc biệt. Dấu mốc 96 năm của Đảng càng có ý nghĩa, khi chúng ta bước vào năm đầu tiên của nhiệm kỳ mới - năm khởi đầu có vai trò quyết định trong việc cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đưa các mục tiêu chiến lược thành hiện thực. Niềm tự hào về chặng đường vẻ vang 96 năm dưới cờ Đảng quang vinh đang tiếp thêm sức mạnh, khơi dậy khí thế mới, niềm tin mới để chúng ta vững tin tiến bước…”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh và mong muốn khơi dậy niềm tự hào, tự tin và trên hết là ý thức hành động, biến nghị quyết thành những đổi thay thiết thực trong đời sống người dân. Toàn đảng, toàn dân cùng vững bước tiến lên dưới lá cờ vẻ vang của đảng.
Trong cuộc trao đổi với PV VOV2, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cũng đặc biệt nhấn mạnh: Đại hội XIV của Đảng mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc vì đất nước hùng cường, phồn vinh, văn minh và cuộc sống nhân dân ngày càng hạnh phúc. Với tư tưởng “Dân là gốc”, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và phương châm hành động “Nói ít - Làm nhiều - Làm đến cùng” đã tạo sự đồng thuận cao, khơi dậy niềm tin, kỳ vọng và sự đồng hành của nhân dân đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
PV: Thưa PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Đại hội XIV của Đảng đã khép lại, nhưng theo ông dư âm và những dấu ấn nổi bật từ thành công của Đại hội đã và đang tạo nên niềm tin và khí thế mới như thế nào trong toàn xã hội?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Đại hội XIV khép lại và mở ra một không gian tinh thần mới cho toàn xã hội. Điều mà tôi cảm nhận rất rõ cả trong các diễn đàn của nghị trường lẫn tiếp xúc cử tri đó là một tâm trạng, một tâm thế khác hẳn, niềm tin được củng cố, kỳ vọng được đánh thức và trách nhiệm công dân được khơi dậy mạnh mẽ hơn. Tôi thấy người dân không chỉ nói về nghị quyết như là một văn bản chính trị mà họ nói về nghị quyết như một lời hứa chung cho tương lai của đất nước nữa. Chính vì thế tôi thấy dư âm lớn nhất mà Đại hội để lại chính là cảm giác về một giai đoạn phát triển mới, đất nước của chúng ta không còn chỉ tập trung đuổi kịp mà đã tự tin đặt mục tiêu là vươn lên, định vị mình bằng nội lực văn hóa, bằng trí tuệ con người Việt Nam và bằng khát vọng dân tộc nữa. Những thông điệp về đổi mới thể chế, hay phát triển công nghệ chuyển đổi số, xây dựng con người toàn diện không còn là những khẩu hiệu xa xôi mà được nhìn nhận như những trụ cột rất cụ thể của đời sống tương lai. Chính điều đó tạo nên một khí thế xã hội rất đáng quý, không ồn ào, không hình thức mà là sự chuyển động âm thầm, bền bỉ trong suy nghĩ và hành động của mỗi người.
PV: Đại hội XIV đã đề ra nhiều phương châm hành động rõ ràng, thiết thực “Nói ít - Làm nhiều - Làm đến cùng”. Vậy đâu sẽ là những điểm then chốt, có ý nghĩa quyết định để nhanh chóng đưa nghị quyết vào cuộc sống, thưa ông?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi nhận thấy là phương châm nói ít, làm nhiều, làm đến cùng không chỉ là một khẩu hiệu hành động mà là một yêu cầu về văn hóa thực thi trong giai đoạn phát triển mới. Để tinh thần đó đi vào cuộc sống, tôi nghĩ có 3 điểm then chốt mang tính chất quyết định: thứ nhất, là thể chế hóa kịp thời và đồng bộ các định hướng lớn của đại hội. Nghị quyết chỉ thực sự sống khi được chuyển hóa thành luật pháp, thành chính sách, thành chương trình hành động cụ thể và có nguồn lực đi kèm là cơ chế giám sát rõ ràng. Vai trò của Quốc hội, của Chính phủ, của các cơ quan lập pháp, hành pháp ở đây đặc biệt quan trọng. Bởi đây chính khâu biến ý chí chính trị thành hành lang pháp lý.
Thứ hai, là trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, làm đến cùng nghĩa là không để chủ trương bị loãng dần qua các tầng nấc trung gian, không để tình trạng trên nóng dưới lạnh. Khi mỗi cấp mỗi ngành xác định rõ việc của mình hay là thời hạn của mình và chịu trách nhiễm đến cùng với kết quả thì nghị quyết sẽ không còn là câu chuyện chung chung mà trở thành nhiệm vụ cụ thể hàng ngày.
Điểm thứ ba rất quan trọng, theo tôi là phải tạo được sự đồng hành của xã hội, người dân và doanh nghiệp cần nhìn thấy lợi ích thiết thực của các chính sách mới, được tham gia góp ý, được tham gia phản biện và giám sát, khi nghị quyết chạm được vào đời sống thực, giải quyết được những vấn đề cụ thể của người dân thì tự khắc nó sẽ có sức sống bền vững. Tóm lại là làm đến cùng không chỉ là quyết tâm chính trị mà là một quy trình hành động nghiêm túc nhất quán và có trách nhiệm từ Trung ương đến cơ sở.
PV: Thưa PGS.TS Bùi Hoài Sơn, trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, các cấp các ngành cần làm gì để biến tinh thần nghị quyết thành những kết quả cụ thể, đo đếm được trong đời sống nhân dân?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Phát triển nhanh nhưng phải bền vững, theo tôi đòi hỏi một cách tiếp cận rất thực chất, tức là mọi mục tiêu lớn phải được dịch thành các tiêu cụ thể gắn với chất lượng sống của người dân, tinh thần nghị quyết chỉ có ý nghĩa khi người dân cảm nhận được nó qua những thay đổi rõ ràng trong giáo dục trong y tế, trong môi trường văn hóa hay là trong cơ hội việc làm cũng như là sự an toàn xã hội. Trước hết các cấp, các ngành cần đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý theo hướng phải quản trị phát triển, không chỉ làm đúng quy trình mà phải hướng đến kết quả. Cuối cùng, tôi thấy mỗi chương trình, mỗi dự án cần có hệ thống tiêu chí đánh giá rõ ràng làm được gì, người dân hưởng lợi ra sao, tác động dài hạn thế nào, đo đếm không chỉ bằng con số tăng trưởng mà bằng chỉ số hài lòng qua mức độ tiếp cận dịch vụ công, chất lượng môi trường sống và đời sống văn hóa tinh thần.
Thứ hai là cần coi con người là trung tâm thực sự của mọi chính sách. Điều này rất phù hợp với những định hướng lớn mà lãnh đạo Đảng, trong đó đồng chí Tổng bí thư Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh phát triển không chỉ để giàu lên về kinh tế mà để con người được sống tốt hơn, an toàn hơn nhân văn hơn. Chính vì thế khi mỗi chính sách được soi chiếu dưới góc độ người dân được gì thì tự nhiên việc thực thi sẽ sát với thực tế hơn.
Cuối cùng phải tăng cường giám sát minh bạch và trách nhiệm giải trình. Chính sự minh bạch đó tạo ra áp lực tích cực buộc bộ máy phải vận hành hiệu quả hơn, đồng thời củng cố niềm tin xã hội. Và tôi nghĩ là khi nghị quyết được hiện thực hóa bằng những thay đổi cụ thể trong từng ngôi trường, trong từng bệnh viện, khu dân cư hay các thiết chế văn hóa thì lúc đó tinh thần đại hội mới thực sự trở thành nhịp đập thường ngày của đời sống đất nước.
PV: Trân trọng cảm ơn PGS.TS Bùi Hoài Sơn!
