Kết quả Tổng điều tra kinh tế và Điều tra cơ sở hành chính năm 2021

[VOV2] - Theo báo cáo kết quả chính thức Tổng điều tra kinh tế năm 2021 do Tổng cục Thống kê thực hiện, số lượng và lao động của các đơn vị điều tra năm 2020 đều tăng so với năm 2016 nhưng mức độ tăng về lao động thấp hơn so với các giai đoạn trước.

Mỹ Trang

Chiều nay (29/6), tại Hà Nội, đã diễn ra Hội nghị công bố kết quả chính thức Tổng điều tra kinh tế và Điều tra cơ sở hành chính năm 2021. Hội nghị do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Kinh tế Trung ương và Ban Chỉ đạo Điều tra cơ sở hành chính Trung ương phối hợp tổ chức.

Tham dự Hội nghị có đại diện là thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ thường trực Tổng điều tra kinh tế và Điều tra cơ sở hành chính năm 2021; đại diện lãnh đạo và chuyên viên thuộc cơ quan Tổng cục Thống kê. Hội nghị được kết nối trực tuyến với 63 điểm cầu Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, thành viên Ban Chỉ đạo Điều tra cơ sở hành chính Trung ương Trương Hải Long cho biết, Tổng điều tra kinh tế và Điều tra cơ sở hành chính năm 2021 là hai cuộc điều tra thống kê trong Chương trình điều tra thống kê quốc gia theo Quyết định số 307/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1096/QĐ-BNV ngày 23/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Thứ trưởng Trương Hải Long nhấn mạnh: “Trong quá trình triển khai thu thập thông tin, cả hai cuộc điều tra ít nhiều đã bị tác động bởi đại dịch COVID-19, nhưng với quyết tâm chính trị, sự chỉ đạo quyết liệt và linh hoạt thích ứng của Ban Chỉ đạo các cấp, công tác thu thập thông tin và nghiệm thu kết quả điều tra đã hoàn thành; đạt yêu cầu để xử lý, tổng hợp số liệu công bố kết quả chính thức theo kế hoạch”.

Theo báo cáo kết quả chính thức Tổng điều tra kinh tế năm 2021 do Tổng cục Thống kê thực hiện, số lượng và lao động của các đơn vị điều tra năm 2020 đều tăng so với năm 2016 nhưng mức độ tăng về lao động thấp hơn so với các giai đoạn trước.

Theo đó, cả nước có gần 6,0 triệu đơn vị điều tra, tăng 444,7 nghìn đơn vị, tương đương tăng 8,0% so với năm 2016; số lao động trong các đơn vị điều tra là gần 26,0 triệu người, tăng 752,8 nghìn người, tương đương tăng 3,0%. Bình quân mỗi năm giai đoạn 2016-2020 tăng 1,9% về số đơn vị và tăng 0,7% về số lao động (Giai đoạn 2006-2011 tăng 4,9% và tăng 7,7%; giai đoạn 2011-2016 tăng 1,5% và tăng 3,6%).

Số doanh nghiệp, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng duy trì mức tăng nhưng các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, đơn vị sự nghiệp, hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ có dấu hiệu chững lại trong 5 năm qua. Tính đến thời điểm 31/12/2020, cả nước có gần 683,6 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh với số lao động là 14,7 triệu người, tăng 35,3% về số doanh nghiệp và tăng 4,7% về số lao động so với năm 2016. Giai đoạn 2016-2020, bình quân mỗi năm số doanh nghiệp tăng 7,9% (Bình quân giai đoạn 2011-2016 tăng 8,7%); số lao động tăng 1,2%, thấp hơn mức tăng 5,1% của giai đoạn 2011-2016.

Quy mô lao động bình quân một đơn vị điều tra năm 2020 biến động không đều so với năm 2016, trong đó giảm mạnh ở khối doanh nghiệp. Lao động bình quân trong các đơn vị điều tra giảm nhẹ từ 4,5 người năm 2016 xuống 4,3 người năm 2020. Trong đó: Doanh nghiệp giảm từ 27,2 người xuống 21,5 người; hợp tác xã giảm từ 15,1 xuống 11,1 người; cơ sở SXKD cá thể giảm nhẹ từ 1,7 người xuống 1,6 người. Các đơn vị sự nghiệp, hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ và tôn giáo, tín ngưỡng lại có biến động tăng so với năm 2016, cụ thể: Đơn vị sự nghiệp năm 2020 tăng 11 người so với năm 2016; tổ chức phi Chính phủ tăng 5,9 người; đơn vị hiệp hội tăng 0,2 người.

Xét theo khu vực kinh tế, khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng đơn vị và lao động. Trong tổng số đơn vị điều tra, khu vực dịch vụ có gần 4,9 triệu đơn vị, chiếm 81,8% (năm 2016 là 80,8%); khu vực công nghiệp – xây dựng là 1,1 triệu đơn vị, chiếm 18,0% (năm 2016 là 19,0%); khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 14,8 nghìn đơn vị, chiếm 0,2% (tương đương với năm 2016). Về số lao động, khu vực dịch vụ có hơn 14,2 triệu người, chiếm 53,8%, tăng 4,9% so với năm 2016; khu vực công nghiệp – xây dựng là 11,4 triệu người, chiếm 44,8%, tăng 0,8%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 349,7 nghìn người, chiếm 1,4%, giảm 0,6%.

Về kết quả Điều tra cơ sở hành chính do Bộ Nội vụ thực hiện, cho thấy số các cơ sở hành chính, cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội năm 2020 giảm so với năm 2016. Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước có gần 32,3 nghìn đơn vị hành chính, cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội (gọi tắt là đơn vị hành chính), giảm 49,1% so với năm 2016.

Xét theo vùng, mật độ phân bố các cơ sở hành chính có sự phân hóa rõ nét, vùng kinh tế Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung có số lượng cơ sở hành chính lớn nhất với 7.575 đơn vị, chiếm 23,46%. Đặc biệt, số đơn vị hành chính giảm so với số liệu điều tra năm 2017.

Tỷ lệ người đứng đầu cơ sở hành chính đạt trình độ đại học và trên đại học rất cao với 31.597 người có trình độ từ đại học trở lên, chiếm tỷ lệ 97,85%. Lao động có sự phân hóa rõ nét, số lượng lao động nữ trong các cơ sở hành chính chiếm tỷ lệ thấp với 313,2 nghìn lao động, chiếm 22,66% tổng số lao động cùng kỳ. Lực lượng lao động trẻ chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu lao động phân theo nhóm tuổi trong các cơ sở hành chính, cụ thể: Lao động nhóm tuổi từ 16-45 tuổi là 1.085 nghìn người, chiếm tỷ lệ 78,51% tổng số lao động phân theo nhóm tuổi.

Trình độ đào tạo của lao động trong các cơ sở hành chính ngày càng được nâng cao, số lượng lao động có trình độ Đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ lớn với 58,4%, tương đương 807,1 nghìn lao động. Năng lực và trình độ chuyên môn của các lao động trong các cơ sở hành chính ngày càng được nâng cao, lao đọng xếp ngạch công chức là chuyên viên cao cấp và tương đương là 30,2 nghìn người, chiếm tỷ lệ 2,21%, chuyên viên chính và tương đương là 262,4 nghìn người, chiếm 19,2%.

Thông tin từ kết quả Tổng điều tra kinh tế và điều tra cơ sở hành chính năm 2021 phác họa đầy đủ sự biến động, phân bố các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp; số lượng lao động; cơ cấu ngành, vùng của nền kinh tế; đóng góp của từng ngành kinh tế cho sự phát triển của cả nước, từng địa phương. Đây là những thông tin hữu ích phục vụ Lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các ngành và địa phương xây dựng, ban hành chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng và liên vùng sát với tình hình thực tiễn, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2021-2025) và 10 năm (2021-2030) theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII./.

 

Viết bình luận

Tin cùng chuyên mục