Ngày 19/8, tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu thảo luận tại tổ về chủ trương đầu tư “Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa, xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035”
Bày tỏ quan điểm về dự thảo Nghị quyết, đa số các đại biểu cơ bản thống nhất với chủ trương tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia hiện hành. Theo các đại biểu, việc tích hợp là cần thiết để khắc phục tình trạng nhiều đầu mối, nhiều văn bản hướng dẫn, khó lồng ghép nguồn lực, chậm phân bổ, chậm giải ngân; đồng thời tăng quyền chủ động, trách nhiệm của địa phương và chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra.
Tuy nhiên, nhiều đại biểu cho rằng, đây không đơn thuần là việc sắp xếp kỹ thuật hay đổi tên chương trình, mà là một thay đổi pháp lý lớn. Vì vậy, quá trình tích hợp không được làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi và mức độ ưu tiên mà Quốc hội đã quyết định.
Tập trung vào chương trình chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển, đại biểu Trần Thị Nhị Hà (ĐBQH TP Hà Nội) cho rằng đây là lĩnh vực tác động trực tiếp đến sức khỏe, tuổi thọ, chất lượng dân số, công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế và an sinh xã hội.
Một trong những vấn đề được đại biểu đặt ra là tính khả thi của các chỉ tiêu y tế và dân số. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử và quản lý sức khỏe theo vòng đời; 100% trạm y tế xã, phường, đặc khu triển khai dự phòng, quản lý, điều trị một số bệnh không lây nhiễm; 100% trung tâm kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh đủ năng lực xét nghiệm một số tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, chất lượng nước sạch, vệ sinh môi trường. Tỷ lệ xã, phường, đặc khu đạt Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế xã cũng được đặt mục tiêu 90% vào năm 2030 và 95% vào năm 2035.
Đây là những mục tiêu cao, nhưng theo đại biểu Trần Thị Nhị Hà, để đạt được một cách thực chất, cần đồng bộ cả hệ thống pháp luật, mô hình tổ chức, nhân lực, cơ sở vật chất và dữ liệu. Đại biểu dẫn chứng từ thực tế, sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Hà Nội đã chuyển các trạm y tế xã thành đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND xã, phường. Trong khi đó, theo lộ trình hiện hành, trên phạm vi cả nước đến năm 2030 mới hoàn tất việc chuyển các trạm y tế xã thành đơn vị sự nghiệp công lập.
Điều này có thể dẫn tới sự khác nhau về mô hình tổ chức y tế cơ sở giữa các địa phương. Vì vậy, nếu muốn đánh giá thực chất tỷ lệ xã đạt Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế xã, trước hết cần rà soát, điều chỉnh các tiêu chí cho phù hợp với mô hình tổ chức mới.
“Muốn chúng ta đạt được những chỉ tiêu này mang tính thực chất thì các văn bản, các quy định pháp luật phải được thay đổi một cách đồng bộ và thống nhất” - đại biểu Trần Thị Nhị Hà nhấn mạnh.
Một mục tiêu khác được đại biểu đặc biệt lưu ý là việc lập sổ sức khỏe điện tử cho 100% người dân. Các đại biểu QH nhận định, đây không chỉ là câu chuyện đầu tư phần mềm hay nền tảng công nghệ. Điều quan trọng hơn là phải xây dựng được hệ thống dữ liệu sạch, liên thông giữa các tuyến, các cấp khám chữa bệnh, nhất là giữa cơ sở khám chữa bệnh Trung ương và địa phương. Dữ liệu phải được chuẩn hóa, cập nhật thường xuyên, bảo đảm an toàn, bảo mật và có nhân lực thực hiện. Nếu chỉ đầu tư nền tảng công nghệ nhưng trạm y tế thiếu người, thiếu kỹ năng số, thiếu thời gian cập nhật dữ liệu thì mục tiêu số hóa khó đạt hiệu quả.
Tương tự, đối với mục tiêu 100% trạm y tế quản lý bệnh không lây nhiễm hay 100% trung tâm kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh đủ năng lực xét nghiệm cũng phải đi cùng thiết bị, vật tư, nhân lực và đào tạo liên tục.
Do đó, đại biểu Trần Thị Nhị Hà đề nghị Chính phủ cần xác định rõ lộ trình đối với từng nhóm chỉ tiêu, điều kiện bảo đảm, tiêu chuẩn tối thiểu và cơ chế kiểm chứng kết quả đầu ra.
“Chúng ta cũng đặt những chỉ tiêu rất cao nhưng mà chúng ta chưa nói rõ về căn cứ để có thể tổ chức thực hiện được, đặc biệt là vấn đề nguồn lực và năng lực thực hiện”- đại biểu Trần Thị Nhị Hà bày tỏ ý kiến.
Chênh lệch nhân lực: Bài toán cần được giải từ y tế cơ sở
Cũng từ thực tế khảo sát tại các địa phương, đại biểu Trần Thị Diệu Thúy (ĐBQH TP Hồ Chí Minh) đặc biệt quan tâm đến nguồn nhân lực tại các trạm y tế xã, phường sau khi sắp xếp chính quyền địa phương hai cấp.
Theo đại biểu, sự chênh lệch về nhân lực y tế cơ sở giữa các khu vực hiện rất lớn. Ngay tại TP Hồ Chí Minh, trong khu vực trung tâm, có những trạm y tế có hơn 30 bác sĩ chuyên khoa và bác sĩ đa khoa phục vụ người dân. Nhưng tại những khu vực xa hơn, nguồn nhân lực đã hạn chế đáng kể. Có nơi chỉ còn khoảng hơn 10 bác sĩ, trong khi một số trạm y tế ở khu vực xa chỉ có một đến hai bác sĩ. Đáng lưu ý, theo đại biểu, không phải tất cả số bác sĩ này đều được đào tạo và bố trí phù hợp để đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu tại tuyến xã.
Qua khảo sát thực tế, Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh nhận thấy sự chênh lệch về nguồn lực nhân sự tại các trạm y tế là rất lớn. Trong khi nhu cầu bổ sung nhân lực ngày càng tăng thì nguồn nhân lực được đào tạo để phục vụ y tế cơ sở cũng còn hạn chế.
Từ thực tế đó, đại biểu Trần Thị Diệu Thúy đề nghị ưu tiên biên chế viên chức cho y tế, đặc biệt là tại trạm y tế cấp xã. Bên cạnh đó, cần có chính sách về thu nhập đối với cán bộ y tế được điều động hoặc luân chuyển về các trạm y tế ở vùng xa, vùng khó khăn.
Theo đại biểu Trần Thị Diệu Thúy, nếu khoảng cách từ nơi người dân sinh sống đến bệnh viện tuyến trên đã khá xa ở những địa bàn thuận lợi, thì tại vùng sâu, vùng xa, khoảng cách tiếp cận dịch vụ y tế còn lớn hơn nhiều. Bởi vậy, nếu không có chính sách đủ mạnh về nhân lực và thu nhập, rất khó bảo đảm mục tiêu thu hẹp khoảng cách trong tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng.
Từ ý kiến của đại biểu Trần Thị Diệu Thúy, đại biểu Trần Lưu Quang ( ĐBQH TP Hồ Chí Minh) cho rằng cần nghiên cứu một phương thức kết nối chặt chẽ hơn giữa y tế cấp xã với các cơ sở y tế tuyến trên. Theo đại biểu, có thể nghiên cứu, thí điểm mô hình trạm y tế xã, phường trực thuộc các bệnh viện lớn trong những điều kiện phù hợp.
Theo cách tiếp cận này, trạm y tế cơ sở tập trung vào hai nhiệm vụ chính: phòng, chống dịch bệnh và thực hiện cấp cứu, điều trị một số bệnh cơ bản. Khi trực thuộc bệnh viện lớn, bài toán nhân lực có thể được giải quyết thông qua cơ chế luân chuyển bác sĩ, nhân viên y tế giữa bệnh viện và trạm y tế.
“Luân chuyển cán bộ y bác sĩ để mọi người có điều kiện đi cơ sở nhưng cũng không phải đi mãi mãi, vừa nâng cao được trình độ vừa giải quyết câu chuyện cho cơ sở”- đại biểu Trần Lưu Quang đề xuất.
Theo đại biểu Trần Lưu Quang, mô hình này cũng có thể giúp nâng cao khả năng xử trí ban đầu tại tuyến cơ sở và rút ngắn thời gian chuyển bệnh nhân nặng lên cơ sở y tế có đủ điều kiện điều trị. Tuy nhiên, đại biểu cũng lưu ý khoảng cách địa lý là yếu tố cần tính toán, nhất là tại những địa phương vùng sâu, vùng xa, nơi bệnh viện tuyến trên có thể cách xa trạm y tế hàng chục, thậm chí nhiều hơn.Vì vậy, mô hình này có thể được nghiên cứu, thí điểm ở những địa bàn có điều kiện phù hợp, đồng thời cần cơ chế riêng đối với các địa phương còn hạn chế về ngân sách và nhân lực.
Theo hồ sơ chương trình, tổng nguồn lực dự kiến dành cho Chương trình chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035 là hơn 88.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương khoảng 68.000 tỷ đồng, ngân sách địa phương khoảng 20.000 tỷ đồng và các nguồn vốn khác.
Đây là nguồn lực đáng kể nhưng phạm vi nhiệm vụ của chương trình rất rộng, từ phòng bệnh, kiểm soát dịch bệnh, bệnh không lây nhiễm, dinh dưỡng, sức khỏe học đường đến dân số, thích ứng già hóa dân số, chăm sóc người cao tuổi, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, truyền thông y tế, chuyển đổi số, giám sát và đánh giá. Vì vậy, cần tính toán cụ thể nguồn lực theo từng mục tiêu, từng nhiệm vụ, tránh phân bổ dàn trải. Đặc biệt, với vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi khả năng cân đối ngân sách và năng lực vận hành còn hạn chế, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Đầu tư cho y tế cơ sở phải là đầu tư cho khả năng tiếp cận của người dân
Một điểm chung trong các ý kiến của đại biểu là yêu cầu không để mục tiêu lớn đi trước quá xa so với năng lực thực hiện.
Đại biểu Trần Thị Nhị Hà đề nghị đào tạo nhân lực y tế phải gắn với vị trí việc làm, tiêu chuẩn năng lực, chế độ đãi ngộ và cơ chế giữ chân. Đặc biệt cần ưu tiên nhân lực cho trạm y tế xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.
Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy cũng đề nghị ưu tiên nguồn lực nhân sự cho những địa bàn khó khăn, đồng thời có chính sách thu nhập phù hợp với cán bộ y tế được điều động, luân chuyển về cơ sở.
Còn đại biểu Trần Lưu Quang đặt vấn đề tăng cường kết nối giữa bệnh viện tuyến trên với trạm y tế xã, phường, qua đó vừa hỗ trợ chuyên môn, vừa tạo cơ chế luân chuyển nhân lực và nâng cao năng lực y tế cơ sở.
Các đại biểu nhất trí rằng, hiệu quả của một chương trình mục tiêu quốc gia không chỉ được đo bằng số tiền đã bố trí, số công trình được xây dựng hay tỷ lệ giải ngân, mà cuối cùng phải được nhìn từ những thay đổi cụ thể trong đời sống người dân.
Với lĩnh vực y tế, đó là khả năng người dân được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu ngay tại nơi mình sinh sống; người dân vùng khó khăn không bị bỏ lại phía sau; trạm y tế có đủ người, đủ năng lực và đủ điều kiện hoạt động; và những mục tiêu về chuyển đổi số, quản lý sức khỏe, phòng bệnh thực sự trở thành công cụ nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia không chỉ là giảm đầu mối, giảm thủ tục, mà thực sự trở thành một bước chuyển trong cách đầu tư và tổ chức thực hiện chính sách xã hội: tập trung nguồn lực hơn, phân bổ đúng hơn và quan trọng nhất là người dân được thụ hưởng rõ hơn.
