Nghe chương trình tại đây:

Có công nghệ, có nhu cầu nhưng chưa thể chuyển giao

Mỗi ngày, nhà máy xử lý nước thải tập trung của Tổ hợp Khu công nghiệp DEEP C Hải Phòng tiếp nhận khoảng 2.500-3.000 m³ nước thải. Sau quá trình xử lý, phần lớn lượng nước này vẫn được xả ra môi trường.

Trong khi đó, ngay gần nhà máy, một doanh nghiệp cần khoảng 1 triệu m³ nước mỗi năm cho hệ thống làm mát. Một doanh nghiệp khác sử dụng khoảng 600.000 m³ nước mỗi năm cho lò hơi.

Một bên có nguồn nước sau xử lý, một bên có nhu cầu sử dụng nước rất lớn. Khoảng cách giữa họ chỉ là một con đường trong khu công nghiệp. Thế nhưng, dòng nước ấy vẫn chưa thể đi từ nhà máy xử lý sang dây chuyền sản xuất để trở thành nguyên liệu đầu vào.

Đây là nghịch lý được đặt ra từ chương trình thí điểm tái sử dụng nước thải công nghiệp do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP), Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan và Khu công nghiệp DEEP C phối hợp triển khai tại Hải Phòng từ tháng 11/2025.

Theo nghiên cứu, hệ thống thí điểm được thiết kế với quy mô 1.000 m³/ngày đêm. Một phần nước từ nhà máy xử lý nước thải tập trung, có công suất khoảng 6.000 m³/ngày đêm, sẽ tiếp tục được xử lý nâng cao để phục vụ các nhu cầu trong khu công nghiệp.

Kết quả bước đầu cho thấy, xét về kỹ thuật, nước thải sau xử lý có thể được xử lý nâng cao để sử dụng cho nhiều mục đích như tưới cây, rửa đường, làm mát thiết bị hoặc cấp cho lò hơi.

Công nghệ đã có, nhu cầu sử dụng cũng đã được xác định. Doanh nghiệp cung cấp và doanh nghiệp tiếp nhận đều sẵn sàng. Điều còn thiếu là một hành lang pháp lý đủ rõ để nước tái sử dụng có thể được chuyển giao giữa các chủ thể.

Bà Diệp Thị Kim Hoàn, Giám đốc Phát triển bền vững, Tổ hợp Khu công nghiệp DEEP C Hải Phòng cho biết, nếu xây dựng hệ thống tái sử dụng nước để tưới cây, chi phí đầu tư ban đầu khoảng 16 tỷ đồng. Nếu đầu tư hệ thống xử lý nâng cao cùng hạ tầng cung cấp nước cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, tổng vốn đầu tư khoảng 23 tỷ đồng.

“Nếu phải đầu tư thì chúng tôi thà đầu tư khoảng 23 tỷ đồng để sau đó có thể bán nguồn nước tái sử dụng cho khách hàng”, bà Hoàn nói.

Mức đầu tư của phương án thứ hai cao hơn khoảng 6-7 tỷ đồng nhưng có khả năng tạo nguồn thu, đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng nước lớn và ổn định của các doanh nghiệp.

Theo bà Hoàn, mục tiêu của DEEP C là cung cấp nguồn nước này cho khách hàng, qua đó hình thành mô hình cộng sinh công nghiệp trong khu công nghiệp. Nước thải sau xử lý của đơn vị này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất của đơn vị khác.

Khi một doanh nghiệp sử dụng nước đã qua xử lý từ doanh nghiệp khác, khu công nghiệp có thể giảm lượng nước sạch phải khai thác, hạn chế lượng nước thải xả ra môi trường và hình thành một vòng tuần hoàn có thể đo đếm được.

Tuy nhiên, để mô hình tồn tại lâu dài, lợi ích môi trường phải đi cùng hiệu quả kinh tế.

“Nói đến phát triển bền vững mà mô hình không tạo ra lợi nhuận và không sinh lời thì đối với nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp, hoạt động đó giống như làm từ thiện”, bà Hoàn nêu quan điểm.

Theo đại diện DEEP C, doanh nghiệp chỉ có thể duy trì và mở rộng mô hình khi hoạt động tái sử dụng nước tạo được dòng tiền.

Khó khăn hiện nay không còn nằm ở câu hỏi có xử lý được nước thải hay không, mà là sau khi xử lý, nguồn nước ấy có địa vị pháp lý như thế nào.

Nếu nước được tái sử dụng trong phạm vi nội bộ một cơ sở, doanh nghiệp đã có cơ sở để triển khai theo Điều 74, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Nhưng khi nước được chuyển từ đơn vị xử lý sang một doanh nghiệp khác, hoạt động này vượt ra ngoài phạm vi tuần hoàn nội bộ và làm phát sinh nhiều vấn đề mới.

“Theo các quy định hiện hành, việc tái sử dụng nội bộ đã được cho phép. Tuy nhiên, nếu chuyển giao nước thải cho một đơn vị khác thì thủ tục rất phức tạp. Hiện chưa có hướng dẫn cụ thể, chi tiết để doanh nghiệp thực hiện. Kể cả khi DEEP C điều chỉnh giấy phép môi trường để đáp ứng các yêu cầu về môi trường thì vẫn còn nhiều quy định và quy trình khác”, bà Hoàn cho biết.

GS.TS Nguyễn Việt Anh, Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật Môi trường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội phân tích, việc tái sử dụng nước thải sau xử lý trong phạm vi nội bộ một cơ sở sản xuất có thể được tích hợp vào quy trình sản xuất. Doanh nghiệp trực tiếp thực hiện và chịu trách nhiệm về chất lượng nước, quản lý vận hành cũng như kiểm soát rủi ro. Vì vậy, cơ quan nhà nước cũng thuận lợi hơn trong quản lý.

Trong khi đó, nếu nước được tái chế ở quy mô khu công nghiệp rồi chuyển giao cho các đơn vị khác sử dụng, vấn đề sẽ phức tạp hơn.

“Với loại hàng hóa này, chúng ta phải xác định giá theo cơ chế thị trường. Đồng thời, Nhà nước vẫn phải kiểm soát được chất lượng và hoạt động mua bán. Đặc biệt, những rủi ro phát sinh không chỉ liên quan đến người bán và người mua mà còn có thể ảnh hưởng đến cộng đồng và môi trường. Do đó, tất cả các rủi ro này đều phải được kiểm soát”, GS.TS Nguyễn Việt Anh phân tích.

Khoảng trống pháp lý cũng gây khó khăn cho cơ quan quản lý địa phương khi thẩm định hồ sơ môi trường.

Bà Đỗ Thị Hương, đại diện cơ quan chuyên môn thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng cho biết, địa phương ủng hộ định hướng phát triển khu công nghiệp sinh thái và nâng tỷ lệ tái sử dụng nước. Tuy nhiên, khi chưa có đầy đủ tiêu chí kỹ thuật và cơ sở pháp lý, cơ quan tham mưu khó có thể tự quyết định cho phép doanh nghiệp chuyển giao nước sau xử lý.

Cần khung pháp lý cho thị trường nước tái sử dụng

Kết quả thí điểm tại Khu công nghiệp DEEP C Hải Phòng cho thấy các giải pháp công nghệ để tái chế nước thải cho những mục đích khác nhau là khả thi.

“Các phân tích tài chính cũng cho thấy, với những dây chuyền công nghệ hợp lý, chi phí đầu tư ở mức chấp nhận được. Chi phí vận hành cũng cho phép tạo ra lợi thế cạnh tranh so với việc cấp nước từ đường ống cấp nước chung của thành phố”, GS.TS Nguyễn Việt Anh nhận định.

Tái sử dụng nước thải còn giúp giảm lượng chất thải xả ra môi trường, tiết kiệm tài nguyên nước, hạn chế phát thải khí nhà kính và có thể tạo thêm nguồn thu từ tín chỉ carbon.

Theo GS.TS Nguyễn Việt Anh, để nước thải công nghiệp sau tái chế trở thành hàng hóa, trước hết cần từng bước xây dựng đầy đủ hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn tương ứng với từng mục đích sử dụng.

Cùng với đó là các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật và chính sách khuyến khích về thuế, vốn vay, đất đai đối với doanh nghiệp đầu tư dự án tái sử dụng nước thải.

“Để tái sử dụng nước thải thực sự trở thành hành động cụ thể và được nhân rộng, qua đó thực thi kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực quản lý nước thải nói chung, chúng ta cần ít nhất một nghị định riêng về tái sử dụng nước thải và bùn cặn”, GS.TS Nguyễn Việt Anh đề xuất.

Theo ông, một nghị định riêng sẽ tạo cơ sở pháp lý đủ mạnh để điều chỉnh trách nhiệm của các bên liên quan. Dự thảo Luật Cấp, Thoát nước cũng cần dành nội dung phù hợp cho hoạt động tái sử dụng nước thải và bùn cặn.

“Chúng ta đã coi nước là một loại hàng hóa, thì nước thải tái chế cũng cần được coi là một nguồn nước quan trọng và là một loại hàng hóa. Nước thải tái chế phải được xem xét đầy đủ trên tất cả các khía cạnh. Có như vậy, chúng ta mới có thể khuyến khích việc tái sử dụng nước thải và thực thi kinh tế tuần hoàn”, GS.TS Nguyễn Việt Anh nói.

Bà Nguyễn Thị Hồng Liễu, đại diện Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết các quy định về kinh tế tuần hoàn đã đặt ra định hướng thu hồi và tái sử dụng chất thải. Tuy nhiên, để áp dụng vào từng trường hợp cụ thể, hệ thống pháp luật vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện, nhất là những yêu cầu kỹ thuật tương ứng với từng mục đích sử dụng nước.

Theo bà Liễu, trong dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định liên quan, nội dung tại khoản 6, Điều 74 đang được nghiên cứu theo hướng mở rộng. Phương án tái sử dụng nước sẽ phải được ghi rõ trong hồ sơ môi trường, bao gồm loại cây được tưới, diện tích sử dụng, hệ thống tưới và những giới hạn cần thiết.

“Nước tưới cây, rửa đường thì không dùng để tưới cây ăn quả, rau trồng”, bà Liễu dẫn chứng.

Yêu cầu này cần thiết bởi nước tái sử dụng không phải là sản phẩm có chất lượng giống nhau cho mọi mục đích. Nước dùng để rửa đường, tưới cây cảnh quan, làm mát thiết bị hay cấp cho lò hơi phải đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật và mức độ kiểm soát khác nhau. Vì vậy, hành lang pháp lý không thể chỉ dừng lại ở một quy chuẩn đầu ra chung.

Từ thực tiễn tại DEEP C, một cơ chế thí điểm có kiểm soát có thể được xem xét như bước chuyển tiếp. Việc chuyển giao nước tái sử dụng có thể được triển khai trong một phạm vi cụ thể, với mục đích sử dụng được xác định rõ, hệ thống quan trắc phù hợp và trách nhiệm cụ thể của bên cung cấp, bên tiếp nhận.

Dữ liệu thu được từ quá trình thí điểm sẽ cung cấp thêm căn cứ thực tiễn để hoàn thiện chính sách.

Bà Hoàng Thị Diệu Linh, cán bộ Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, cho biết dự án thí điểm tại DEEP C không chỉ đánh giá công nghệ mà còn xem xét nhu cầu sử dụng, chi phí đầu tư, chi phí vận hành và những rủi ro có thể phát sinh. Kết quả thí điểm sẽ là cơ sở ban đầu để các bên tiếp tục nghiên cứu dự án tái sử dụng nước ở quy mô lớn hơn.

“Chúng tôi đang trao đổi không chỉ với DEEP C mà còn với các sở, ngành và địa phương. Sau chương trình này, có thể mở rộng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi sức ép lên tài nguyên nước có thể nghiêm trọng hơn do hạn hán, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu”, bà Linh cho biết.

Thực tiễn tại DEEP C cho thấy nước thải sau xử lý không còn đơn thuần là chất thải cần loại bỏ. Nếu được xử lý đúng công nghệ, kiểm soát đúng mục đích và định danh rõ về pháp lý, dòng nước này có thể trở thành một nguồn tài nguyên mới.

Khoảng cách để nước tái chế đi từ nhà máy xử lý tới dây chuyền sản xuất chỉ là một con đường. Nhưng để vượt qua con đường ấy, doanh nghiệp vẫn cần một hành lang pháp lý rõ ràng, an toàn và đủ khả thi./.