Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 đã hoàn thành khâu tổ chức coi thi. Ngay sau khi thí sinh hoàn thành các bài thi ngày (12/6), các Hội đồng thi tốt nghiệp THPT sẽ gấp rút tổ chức chấm thi theo chỉ đạo của Bộ GD-ĐT.

Để đảm bảo tính phân hóa và phân loại được học sinh, giảm sự phụ thuộc vào tính khách quan của người chấm, lần đầu tiên Bộ GD&ĐT áp dụng phương pháp chấm thi môn Ngữ văn bằng phương pháp Rubric.

Để hiểu rõ về phương pháp chấm môn tự luận này cũng như những vấn đề còn đặt ra đối với đề thi tốt nghiệp THPT, bên lề buổi thông tin nhanh về công tác tổ chức thi, Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, GS.TS Nguyễn Ngọc Hà, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng, Bộ GD-ĐT, Trưởng Ban đề thi tốt nghiệp THPT 2026 đã có những trao đổi cụ thể đối với phóng viên.

Phóng viên: Năm nay là năm đầu tiên môn Ngữ văn được chấm theo phương pháp Rubric. Phương pháp này có những ưu việt gì và công tác tập huấn cho giáo viên đã được chuẩn bị ra sao để giảm tình trạng "chấm lỏng, chấm chặt", thưa ông?

GS.TS Nguyễn Ngọc Hà: Năm nay, Bộ GD-ĐT bắt đầu áp dụng phương pháp Rubric vào những phần cần thiết của quy trình chấm thi môn Ngữ văn. Đây là một trong chuỗi các hoạt động nhằm thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ: làm sao để môn tự luận phải bảo đảm được tính phân hóa, phân loại được học sinh. Thực tế, kết quả môn tự luận phụ thuộc khá nhiều vào tính khách quan của người chấm.

Về mặt kỹ thuật sâu, tôi không trao đổi cụ thể ở đây. Tuy nhiên, có thể hiểu đơn giản: Rubric giúp giảm thiểu tối đa yếu tố chủ quan của giám khảo. Khi chấm, cứ gắn vào các tiêu chí cụ thể nào thì sẽ có khung điểm tương ứng. Nó tương tự như một đáp án chi tiết giúp công bằng hơn đối với các môn tự luận giàu tính định tính như môn Văn – nơi mà việc định lượng vốn khó khăn hơn nhiều so với các môn khoa học cơ bản.

Về điều kiện triển khai, Bộ GD-ĐT không thực hiện đường đột. Chúng tôi đã tổ chức tập huấn nội dung này trong mô-đun thứ ba và một số địa phương cũng đã áp dụng thử nghiệm. Ở góc độ chấm thi, giáo viên chỉ là người ứng dụng nên không quá phức tạp, cứ nhìn vào tiêu chí để cho điểm.

Phóng viên: Về đề thi Ngữ văn, việc đưa cuộc đời Steve Jobs vào làm ngữ liệu nghị luận xã hội có qua khâu phản biện không? Ban ra đề đánh giá thế nào về khả năng tiếp cận ngữ liệu này của các thí sinh ở vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn?

GS.TS Nguyễn Ngọc Hà: Tôi khẳng định chắc chắn toàn bộ nội dung đề thi đều phải trải qua quá trình phản biện và trao đổi kỹ lưỡng trong Hội đồng.

Yếu tố vùng miền luôn luôn là bài toán được đặt ra hàng đầu khi ra đề. Không chỉ là vấn đề ngữ liệu, ngay cả cách sử dụng từ ngữ địa phương, sự chênh lệch độ khó hay việc ứng dụng công nghệ đều được tính toán và giải thích rất đầy đủ.

Tôi xin khẳng định lại một thông tin không mới: Đây là câu hỏi mang tính chất phân loại thí sinh. Ban ra đề đã tính toán rất kỹ: nếu vẫn giữ nguyên cấu trúc 4 điểm cho câu hỏi phân hóa mạnh này như năm ngoái thì có thể gây ra những bất lợi cho thí sinh, do đó cấu trúc điểm đã có sự điều chỉnh.

Hơn nữa, đây là câu hỏi nghị luận xã hội nhằm kiểm tra khả năng hiểu biết, phân tích và lập luận của học sinh về các vấn đề đời sống. Môn Ngữ văn rất khác các môn khoa học tự nhiên vốn đòi hỏi chặt chẽ việc học thuộc định lý, định luật. Môn Văn luôn có một "phần mở" đằng sau để học sinh thể hiện tư duy.

Quan trọng hơn, nội dung đề thi có tính liên kết chặt chẽ với phần đọc hiểu ở phía trên. Lệnh hỏi (yêu cầu đề) được đưa ra hết sức rõ ràng. Đề bài không hề yêu cầu học sinh phải ghi nhớ các thông tin chi tiết mang tính tiểu sử như: ông ấy sinh năm bao nhiêu, làm nghề gì, ở đâu... Thí sinh chỉ cần dựa trên năng lực lập luận xã hội dựa trên ngữ liệu được cung cấp để làm bài.

Đề thi môn tiếng Anh có vượt quá chương trình giáo dục phổ thông?

Phóng viên: Thưa ông, liên quan đến đề thi môn Tiếng Anh, nhiều ý kiến băn khoăn về độ khó cũng như một số từ vựng được cho là vượt chuẩn. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về định hướng ra đề của Bộ GD-ĐT?

GS.TS Nguyễn Ngọc Hà: Đầu tiên, theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, công tác thi cử của chúng ta phải bảo đảm được các mục đích đề ra, trong đó đề thi phải có độ phân hóa phù hợp. Đến thời điểm này, kỳ thi có hai mục đích chính: xét tốt nghiệp THPT và làm dữ liệu cho các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng phục vụ công tác tuyển sinh. Vì vậy, tính phân hóa trong đề thi là hết sức cần thiết.

Vấn đề thứ hai đã được chúng tôi thảo luận rất kỹ dưới góc độ khoa học. Yêu cầu đối với học sinh khi tốt nghiệp là phải đạt tối thiểu bậc 3 trên Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Về phản ánh cho rằng có một số từ vựng nằm vượt quá khung trình độ này, tôi xin nhấn mạnh một điều rất quan trọng: những từ đó được đặt ở vị trí không mang tính chất quyết định đến điểm số. Nếu từ "vượt chuẩn" đó là từ khóa (keyword) quyết định kết quả của câu hỏi thì mới đáng ngại.

Trong quá trình ra đề, thảo luận và phản biện, các chuyên gia đều thống nhất rằng: các từ này nằm ở phần đọc hiểu, nếu thí sinh hiểu được ngữ cảnh thì hoàn toàn có thể làm được bài mà không nhất thiết phải biết chính xác nghĩa của từ đơn lẻ đó.

Phóng viên: Từ kỳ thi năm ngoái (2025), một số thí sinh tại Hà Nội đã phản ánh về việc phông chữ đề thi Tiếng Anh khó đọc. Xin hỏi Hội đồng ra đề năm nay đã có những chỉ đạo và điều chỉnh gì về mặt kỹ thuật in sao?

GS.TS Nguyễn Ngọc Hà: Trước tiên, chúng tôi rất cảm ơn thông tin phản ánh từ báo chí trong kỳ thi năm 2025. Từ thông tin đó, Hội đồng ra đề thi năm nay đã rút kinh nghiệm hết sức quan trọng.

Bên cạnh việc chuyển đề thi, Bộ đã chuyển kèm hướng dẫn chi tiết về cách in sao, đặt lề, căn lề và quy định phông chữ cụ thể. Quy trình này đã được làm rất cẩn thận và có thử nghiệm thực tế: in thử đúng quy trình, đem photocopy thử để bảo đảm đề thi phải rõ hình, rõ chữ mới đạt yêu cầu.

Các nội dung này hiện đã thành quy định. Bộ GD-ĐT đã đưa ra hướng dẫn và đề nghị cách làm cụ thể, do đó, đơn vị in sao nào không thực hiện đúng quy trình dẫn đến sai sót thì phải chịu trách nhiệm.

Phóng viên: Về môn Toán và các môn Khoa học Tự nhiên (KHTN), cảm quan của nhiều thí sinh là đề vẫn khó hơn các môn Khoa học Xã hội (KHXH). Dù năm ngoái Bộ đã dùng giải pháp quy đổi điểm tương đương, nhưng số lượng thí sinh chọn khối KHTN năm nay vẫn không tăng đáng kể. Trong bối cảnh đất nước đang rất cần phát triển khoa học công nghệ và kỹ thuật cốt lõi, Bộ có giải pháp gì căn cơ hơn?

GS.TS Nguyễn Ngọc Hà: Đây thực sự là một vấn đề lớn và chúng ta cần phối hợp nhiều giải pháp. Vừa qua, Bộ GD-ĐT cũng đã triển khai các chương trình đào tạo ưu tiên cho sinh viên theo khối ngành STEM nhằm khuyến khích người học.

Đối với công tác thi, việc giảm chênh lệch và làm sao cho độ khó giữa các môn đồng đều nhau là một nhiệm vụ rất quan trọng trong năm nay. Việc này đã được thực hiện bằng cả các biện pháp chuyên môn lẫn kỹ thuật khảo thí.

Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận giai đoạn hiện nay vẫn là giai đoạn quá độ. Khi chúng ta chuyển sang hình thức thi trên máy tính, vấn đề chênh lệch độ khó giữa các môn sẽ được giải quyết một cách triệt để hơn bằng hai cách: Sử dụng ngân hàng câu hỏi đã được chuẩn hóa và xử lý kết quả thi bằng các kỹ thuật khảo thí hiện đại để bảo đảm độ công bằng cao nhất cho thí sinh.

Còn đối với kỳ thi năm nay, hiện tại có thí sinh phản hồi đề khó, nhưng cũng có em nhận định đề "dễ thở" hơn. Vì vậy, tôi xin phép là chúng ta nên chờ đợi kết quả thi thực tế để có đánh giá chính xác.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

Phương pháp Rubric là gì?

Rubric là một cách đánh giá, công cụ đánh giá được sử dụng khá rộng rãi trong thực tiễn giáo dục và dạy học hiện nay trên thế giới.

Rubric là bảng mô tả chi tiết có tính hệ thống (theo chuẩn, tiêu chí và mức) những kết quả (kiến thức, kỹ năng, thái độ) mà người học nên làm và cần phải làm để đạt được mục tiêu cuối cùng khi thực hiện một nhiệm vụ cụ thể.

Các Rubric dùng trong dạy học được thiết kế cho các mục đích đánh giá khác nhau, song đều dựa trên cùng một nguyên tắc chung: so sánh, đối chiếu và kiểm chứng kết quả đạt được với các chuẩn và tiêu chí đã được thống nhất xây dựng trước khi thực hiện hoạt động.

Có thể coi mỗi Rubric là một ma trận 2 chiều giúp xác định (đo) giá trị kết quả mà người học đạt được tại một “toạ độ” bất kỳ của kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ.

“Toạ độ giá trị” bất kỳ này của người học được xác định và mô tả chi tiết theo chuẩn, tiêu chí (chỉ số) và mức chất lượng.

Căn cứ vào chức năng và mục đích đánh giá, có thể chia Rubric thành 2 loại: Định tính/Tổng hợp (Holistic) và Định lượng/Phân tích (Analytic)