Hôm 7/10, nhóm nghiên cứu của Đại học Stanford (Hoa Kỳ) và Nhà xuất bản Elsevier công bố bảng xếp hạng các nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2026, thường gọi là danh sách “Top 2% nhà khoa học thế giới”.

Ở danh sách thành tựu trọn đời, Việt Nam có 121 nhà khoa học đến từ 44 cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Trường Đại học VinUni dẫn đầu về số lượng, còn Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở duy nhất có hai nhà khoa học trong top 10.

Sau đây là 10 nhà khoa học tại Việt Nam có thứ hạng cao nhất ở danh sách này.

Bảng xếp hạng do nhóm của GS John Ioannidis (Đại học Stanford) xây dựng từ cơ sở dữ liệu Scopus trên hơn 7 triệu nhà khoa học toàn thế giới. Thứ hạng căn cứ vào chỉ số ảnh hưởng tổng hợp c-score, gồm sáu thành phần là tổng số trích dẫn (không tính tự trích dẫn); chỉ số h; chỉ số hm; số trích dẫn của các bài là tác giả duy nhất, tác giả đầu và tác giả cuối.

Nhờ vậy, chỉ số này đề cao vai trò dẫn dắt thực chất của nhà khoa học trong công trình, thay vì số lượng công bố hay số lần đứng tên đồng tác giả. Các nhà khoa học được phân vào 20 lĩnh vực và 174 ngành hẹp, và chỉ những người thuộc nhóm 2% dẫn đầu của ngành hoặc 100.000 người có c-score cao nhất mới có tên trong danh sách. Đây được xem là một trong những bảng xếp hạng cá nhân uy tín và khách quan nhất hiện nay.

Danh sách quan trọng nhất của bảng xếp hạng là danh sách thành tựu trọn đời, tính toàn bộ ảnh hưởng khoa học tích luỹ trong suốt sự nghiệp.

Bảng xếp hạng này (đã loại đi các tự trích dẫn) phản ánh rõ hai dòng chảy đang song hành của khoa học Việt Nam.

Dòng thứ nhất là các nhà khoa học quốc tế và các giáo sư gốc Việt từ những đại học lớn của thế giới đến làm việc tại Việt Nam.

Dòng thứ hai là các nhà khoa học Việt Nam xây dựng toàn bộ sự nghiệp ở trong nước và bền bỉ vươn lên tầm thế giới bằng chính các công trình thực hiện tại Việt Nam, cùng học trò Việt Nam.

Trong top 10 thế giới, đây là nhóm nhỏ hơn nhưng có đóng góp sâu rộng và lâu dài cho nền khoa học nước nhà, gồm các nhà khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh.

Trong đó, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội) là đại diện duy nhất của lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ, lĩnh vực gắn trực tiếp với kỹ thuật, công nghiệp, hạ tầng và công nghệ của đất nước. Năm 2026 là năm thứ tám liên tiếp ông có tên trong bảng xếp hạng. Trong lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ (Engineering), ông đứng thứ 177 trong gần 158.000 nhà khoa học toàn thế giới, thuộc nhóm 0,11% dẫn đầu trong danh sách xếp hạng thành tựu trọn đời.

Toàn bộ sự nghiệp khoa học của ông gắn với Đại học Quốc gia Hà Nội. Các công trình về vật liệu và kết cấu tiên tiến, vật liệu composite và vật liệu chức năng của ông được ứng dụng và sáng chế tại Việt Nam cùng nhiều thế hệ học trò trong nước, nhiều người nay đã là giáo sư, phó giáo sư và nhà nghiên cứu xuất sắc ở các đại học trong và ngoài nước.

Phân bố theo cơ sở nghiên cứu

121 nhà khoa học có địa chỉ Việt Nam trong danh sách thành tựu trọn đời đến từ 44 cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Dẫn đầu về số lượng là Trường Đại học VinUni với 16 nhà khoa học.

Tiếp theo là Trường Đại học Tôn Đức Thắng (14), Trường Đại học Duy Tân (13), Đại học Quốc gia Hà Nội (7), Đại học Bách khoa Hà Nội (6), Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (5), Trường Đại học Phenikaa (5), Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam (4), Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (4), Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (3), Trường Đại học Văn Lang (3) và Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (3).

Các cơ sở còn lại có từ một đến hai nhà khoa học. Trong nhóm các đại học quốc gia và đại học vùng, Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở có số nhà khoa học được xếp hạng nhiều nhất.

Những kết quả này càng đáng ghi nhận khi các nhà khoa học trong nước vẫn làm việc trong điều kiện còn nhiều hạn chế, trong đó có chi phí công bố và truy cập mở mà đồng nghiệp ở các đại học nước ngoài thường được cơ sở chi trả.

Những năm gần đây, chủ trương khuyến khích hợp tác quốc tế của Nhà nước cùng sự chủ động của các đại học, cả công lập lẫn tư thục như VinUni (Đại học duy nhất ở Việt Nam trả phí cho các nhà xuất bản để các công bố có tên trường đều được truy cập miễn phí - open access), đã giúp các công trình thực hiện tại Việt Nam được tiếp cận và chia sẻ rộng rãi hơn với cộng đồng khoa học thế giới.

Kết quả năm 2026 khẳng định vị thế ngày càng rõ nét của các nhà khoa học Việt Nam trên bản đồ khoa học thế giới, từ y học, năng lượng, kinh tế, trí tuệ nhân tạo đến kỹ thuật công nghệ. Việc một nhà khoa học xây dựng toàn bộ sự nghiệp ở trong nước vươn lên nhóm 0,11% dẫn đầu thế giới của ngành là minh chứng sinh động cho năng lực nội sinh và sức vươn mạnh mẽ của giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học Việt Nam trong tiến trình hội nhập./.