Đầu tư cho con học IELTS từ năm lớp 10, chị Thu Hoài ở Cầu Giấy, Hà Nội định hướng con xét tuyển vào Học viện Ngân hàng. Mùa tuyển sinh vừa rồi, nếu không quy đổi, thí sinh sẽ được cộng điểm khuyến khích chứng chỉ này tối đa 1.5 điểm nếu có Ielts 7.5 trở lên.

Nghe dự kiến bỏ cộng điểm chứng chỉ ngoại ngữ, chị Hoài sốc vì chứng chỉ 7.0 IELTS mà con chị đang sở hữu – thành quả sau 2 năm ôn luyện có thể không tạo ra lợi thế xét tuyển.

“Số tiền đầu tư của gia đình đến thời điểm này là hơn 100 triệu cho hai khóa học IELTS. Lần thi gần nhất của con đã đạt 7.0 và mục tiêu 7.5 không quá xa vời”.

Theo vị phụ huynh, nếu chính sách thay đổi đột ngột, học sinh lớp 12 năm nay sẽ thiệt thòi vì đã dồn sức ôn luyện chứng chỉ, khiến thời gian tập trung ôn các môn văn hóa không còn nhiều.

Theo sát phương án tuyển sinh của các trường ĐH nhiều năm qua, chị Hoài nhận thấy IELTS giúp con tăng cơ hội trúng tuyển khi đề thi tốt nghiệp THPT ngày càng phân hóa mạnh, để lấy được điểm 9-10 rất khó. Nhưng nếu có chứng chỉ IELTS từ 6.5 trở lên, cơ hội có thêm 1-1.5 điểm cộng tùy trường trở nên dễ dàng hơn. Kinh nghiệm này cũng được chị rút ra từ trường hợp của con lớn.

Năm ngoái con chị đạt 26,75 điểm thi tốt nghiệp. Cháu đặt nguyện vọng 1 ngành Kỹ thuật Y sinh, Đại học Bách Khoa Hà Nội song trượt vì trường lấy 27.15 điểm. Nhờ IELST 7.5 cùng điểm đánh giá tư duy (TSA), con chị Hoài đỗ nguyện vọng 2 ở cùng ngành này.

“IELTS cho thấy sự ưu việt trong xét tuyển nên tôi quyết tâm để con thứ hai cũng có được lợi thế tương tự”, chị Hoài nói.

Bộ GD-ĐT dự kiến từ năm 2027 chỉ còn duy trì điểm ưu tiên theo khu vực và đối tượng. Các trường sẽ không được tự quy định điểm cộng cho chứng chỉ ngoại ngữ hay thành tích học sinh giỏi.

Quy định này khiến anh Lê Bình, có con trong đội tuyển học sinh giỏi Văn của một trường THPT ở Lào Cai, khá ngỡ ngàng. Theo anh, số thí sinh được xét tuyển thẳng nhờ giải nhất, nhì, ba học sinh giỏi quốc gia không nhiều. Nếu bỏ điểm khuyến khích với học sinh giỏi cấp tỉnh, nhiều học sinh có thể mất động lực tham gia đội tuyển, bởi thời gian và công sức bỏ ra không còn được ghi nhận tương xứng.

“Bỏ điểm cộng đột ngột từ năm tới sẽ gây thiệt thòi cho các cháu đã tập trung ôn thi học sinh giỏi trong vòng 3 năm”, anh Bình đồng tình phương án bỏ điểm cộng song cho rằng cần lộ trình phù hợp hơn.

Dù con mới học lớp 11, chị Trần Hải đã mua gói luyện thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia Hà Nội với giá hơn 6 triệu đồng. Biết tin 2 năm tới, mỗi ngành có thể chỉ xét tuyển bằng một phương thức, chị Hải đắn đo. Để con luyện tiếp thì sợ không dùng đến mà bỏ thì cũng không xong.

“Trước đây, một thí sinh có thể dùng nhiều phương thức xét tuyển vào một ngành, không trúng tuyển bằng phương thức này có thể đỗ bằng phương thức khác. Nếu giới hạn xét tuyển chỉ một phương thức thì cơ hội của các con sẽ giảm, rủi ro khi đặt nguyện vọng vào ngành yêu thích tăng lên”, chị Hải chia sẻ.

Siết tuyển sinh để đảm bảo công bằng

Năm 2026, các trường ĐH sử dụng 19 phương thức để xét tuyển, trong đó, trường nhiều nhất 5, trường ít nhất 2. Bộ GD-ĐT dự kiến, cơ sở đào tạo sử dụng tối đa 5 phương thức tuyển sinh và mỗi ngành/chương trình đào tạo sử dụng 3 phương thức tuyển sinh áp dụng từ năm 2027 và 1 phương thức áp dụng từ năm 2028, không bao gồm phương thức xét tuyển thẳng, xét tuyển đối tượng cử tuyển.

Lý giải việc siết phương thức xét tuyển, ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho biết trong giai đoạn 2022-2026, thống kê cho thấy trên 40% tổng số chương trình đào tạo sử dụng từ hai phương thức vẫn có biên độ từ 3 điểm trở lên.

Khi các thang đo chưa tương đương, việc một ngành có nhiều phương thức xét tuyển có thể làm thí sinh cùng năng lực được đối xử khác nhau. Dự thảo mới giúp các trường ĐH và thí sinh tập trung xác định thế mạnh, năng lực, sở trường của mình để đề xuất ra phương thức xét tuyển rõ ràng, mạch lạc, dễ tiếp cận.

Theo ông Thảo, 5 phương thức đề xuất trong dự thảo bao phủ hầu hết những thí sinh trúng tuyển, chưa kể phương thức xét tuyển thẳng. “Chúng tôi cũng khuyến khích các trường đại học, trên cơ cơ sở chuyên ngành của mình định hướng tuyển đúng, trúng thí sinh mong muốn theo học và đảm bảo hoàn thành chương trình đào tạo ngành đó.

Trong phiên giải trình sáng 20/9 tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn khẳng định, cộng điểm cho chứng chỉ IELTS đang tạo ra sự bất công bằng.

Dữ liệu thực tế cho thấy, có những ngành lấy đến 28 điểm nhưng cho phép cộng chênh lệch đến 1.5 điểm. Như vậy, trong khoảng 26,5 - 28 điểm này có hàng ngàn thí sinh không trúng tuyển. Nhiều thí sinh có năng lực nhưng không có điều kiện thi chứng chỉ đắt tiền. Bộ trưởng cho rằng, điều này vi phạm nguyên tắc công bằng và cần sửa ngay.

“Bộ không đưa vào quy chế cho phép hay quy định cần phải xét chứng chỉ IELTS vì đây là quyền của các trường, nhưng khi các trường lạm dụng việc đó dẫn đến bất hợp lý thì Bộ hạn chế”, ông Sơn nói.

Theo GS Nguyễn Tiến Thảo, chứng chỉ ngoại ngữ vẫn được sử dụng để quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai; chứng minh yêu cầu ngoại ngữ đầu vào của chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài; hoặc được xem xét công nhận học phần, chuẩn đầu ra theo quy định.

Đồng thời, thí sinh đoạt giải học sinh giỏi quốc gia, quốc tế vẫn được xét tuyển thẳng nếu đáp ứng điều kiện của quy chế. Xét tuyển thẳng cũng không tính vào giới hạn ba phương thức của mỗi ngành từ năm 2027.

Ba năm THPT là thời gian quan trọng để chuẩn bị hành trang vào ĐH và bước ra thị trường lao động. Vì vậy việc phụ huynh học sinh “sốc” khi đón nhận những thay đổi nhanh là điều dễ hiểu. Theo TS Đặng Minh Tuấn – Trường ĐH Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, chính sách giáo dục cần có lộ trình phù hợp để người học có thời gian thích ứng. Việc thay đổi cần thông báo đủ sớm, ít nhất khoảng 3 năm trước khi học sinh bước vào THPT.

Tuy vậy, chuyên gia cũng cho rằng, học sinh đã đầu tư cho các chứng chỉ quốc tế không nên quá lo lắng nếu chính sách tuyển sinh thay đổi. Quá trình ôn luyện vẫn giúp các em phát triển năng lực học tập và tư duy. Chẳng hạn, SAT đánh giá Toán và ngôn ngữ bằng tiếng Anh. Học sinh đạt kết quả tốt ở kỳ thi này có nền tảng thuận lợi khi học các môn khác. Các em có thể thích ứng với những hình thức đánh giá khác, kể cả bài thi bằng tiếng Việt hay các bài đánh giá năng lực.

Vì vậy, phụ huynh, học sinh và giáo viên không nên quá hoang mang trước thay đổi. “Cái khó sẽ khó chung cho tất cả, không riêng ai. Những học sinh có sự chuẩn bị tốt vẫn có lợi thế về năng lực”, TS Đặng Minh Tuấn nói.

Theo ông, nếu phương thức tuyển sinh thay đổi, học sinh chủ yếu cần điều chỉnh thời gian và cách ôn tập để phù hợp với yêu cầu mới./.