Mời các bạn bấm nút nghe nội dung:

Những cặp từ thoạt nhìn đối lập nhưng có thể dùng thay thế cho nhau xuất hiện khá nhiều trong đời sống. Có thể ví dụ như: “Con thuyền trên sông” trong nhiều trường hợp nói hoặc viết thành “Con thuyền dưới sông” nhưng người nghe, người đọc vẫn hiểu vị trí bơi hoặc đỗ của con thuyền là trên mặt nước. PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy, giảng viên cao cấp khoa Ngôn ngữ học, Tiếng Việt và Việt Nam học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá đây là hiện tượng thú vị trong ngôn ngữ học.

“Chúng ta gọi đó là sự trung hòa về nghĩa. Ở đây có một sự tiệm cận rồi dẫn đến trung hòa về nghĩa. Hoặc có sự đa dạng về góc nhìn, liên quan đến điểm nhìn của người quan sát. Và rõ ràng bí mật không nằm ở bản thân từ ngữ mà ở cách bộ não của chúng ta chụp ảnh lại sự vật và sự việc”, cô Phương Thùy phân tích.

Lấy chính ví dụ về con thuyền 'trên' hay 'dưới' sông, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy cho rằng ở trường hợp “Con thuyền trên sông” là khi góc nhìn nằm trên bề mặt nước, lấy mặt nước làm nền. Trong khi “Con thuyền ở dưới sông”, điểm nhìn sẽ từ trên trên bờ nhìn xuống. Việc sử dụng trên/ dưới trong trường hợp này phụ thuộc vào điểm nhìn của người quan sát.

Ở một ví dụ khác, cô Phương Thùy nêu trường hợp “Ra Bắc - vào Nam” căn cứ vào trục Bắc Nam của bản đồ. Khi nói “Ra Nam” tức là người nói nhìn theo hướng từ trung tâm tỏa đi các hướng. Cụ thể ở đây theo PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy được sử dụng để nói về việc “Đi ra khỏi kinh đô cũ”. Tuy nhiên, biến thể này rất ít dùng.

Ngoài ra còn một ví dụ theo cô Phương Thùy vô cùng độc đáo: “Em bé ở trong sân”; “Em bé ở dưới sân”; “Em bé ở ngoài sân” và “Em bé ở trên sân”. Dù cùng chỉ việc em bé ở sân nhưng xuất hiện 2 cặp vị trí đối lập gồm trong/ngoài, trên/dưới.

Ở đây, điểm nhìn của người nói hay vị trí đứng của người quan sát thay đổi. Cụ thể, khi nói rằng “Em bé ở trong sân” có nghĩa người nói đang đứng ngoài đường nhìn vào. Ở đây khu vực ngoài đường có phạm vi rộng hơn so với cái sân. Còn khi nói: “Em bé ở ngoài sân”, chúng ta có thể hình dung vị trí đứng của người nói ở trong nhà và sân lúc này ở phạm vi bên ngoài.

Trường hợp thứ ba: “Em bé ở trên sân” được ngầm hiểu vị trí em bé ở vị trí cao hơn so với mặt sân. Còn trường hợp thứ tư: “Em bé ở dưới sân”. Lúc này, người nói có thể đứng ở tầng 2, tầng 3, tầng 4 của nhà cao tầng - tức là từ điểm nhìn trên cao nhìn xuống và em bé đang ở vị trí thấp hơn. Vị trí của em bé so với cây sân không thay đổi nhưng điểm nhìn của người quan sát khác nhau.

PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy cho rằng có hai lí do để cộng đồng chấp nhận những cặp từ tưởng chứng như đối lập này trong việc chỉ chung một đối tượng.

Thứ nhất là xét về lý thuyết “ Ngôn ngữ học chi nhận” trong việc phản ánh cách con người quan sát thế giới. Một sự vật có thể được nhìn từ nhiều điểm quy chiếu khác nhau. Nếu kết quả cuối cùng một đích đến sẽ chấp nhận các cách sử dụng từ ngữ tưởng chừng đối lập.

Thứ hai, xét về mặt ngữ cảnh và ý định. Trong giao tiếp, quan trọng nhất là ý tại ngôn ngoại. Khi một người nói “Thuyền dưới sông”, bộ não của người nghe tự động lọc bỏ đi nghĩa là chìm dưới đáy .

Nên “Con thuyền ở dưới sông” cũng có nghĩa là “Con thuyền ở trên sông”. Điểm khác nhau duy nhất chỉ ở điểm nhìn của người quan sát khác nhau.

Về số lượng những cặp từ đối ngược, khác nhau nhưng khi dùng không làm thay đổi ý nghĩa câu theo cô Phương Thùy chưa có con số thống kê tuyệt đối. Nhận định về các cặp từ kiểu này chủ yếu được thống kê trong các nghiên cứu cụ thể như trong khẩu ngữ, trong các tác phẩm văn học, trong ca dao, tục ngữ…

Các cặp từ này sinh ra xuất phát từ thói quen vùng miền và sự tiến hóa của tư duy và cả sự sáng tạo của người dùng.

Để sử dụng đúng và hấp dẫn các cặp từ này, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy cho rằng có thể căn cứ vào một số yếu tố như: chọn theo sắc thái biểu cảm. Ví dụ như khi dùng “Con thuyền trên sông” sẽ nhấn mạnh sự nhẹ nhàng, thanh thoát của con thuyền. Và cũng đồng thời so sánh điểm nhìn của con thuyền so với mặt nước. Còn khi “Con thuyền ở dưới sông” sẽ gợi hình ảnh con thuyền lọt thỏm giữa không gian bao la của sông nước. Và vị trí nhìn của người mô tả lại đứng trên bờ sông.

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể ưu tiên tập quán ngôn ngữ. Ví dụ trong văn bản hành chính thì nên dùng những từ có tính chuẩn hóa cao. Ví dụ như: “Hợp đồng trên đây” được dùng nếu đang nói về phần đã viết trước đó.

Cuối cùng, người dùng có thể sử dụng như yếu tố tạo nhịp điệu trong văn chương hoặc trong cách nói.

“Theo tôi, khi muốn nhìn sự việc hay sự vật hoặc sự kiện theo một góc độ nào đó, điểm nhìn sẽ quyết định từ ngữ chúng ta chọn là trên hay dưới, ra hay là vào… Và hiện tượng này theo quan điểm của tôi không phải sự lòng lẻo của tiếng Việt. Đó chính là minh chứng cho cái sự linh hoạt và giàu có trong tư duy của người Việt chúng ta”, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy phân tích thêm.