Một khoản nhuận bút vài trăm nghìn đồng. Một khoản thu nhập vãng lai dưới ngưỡng khấu trừ thuế tại nguồn. Nhiều năm sau, khi đăng nhập eTax Mobile, người nộp thuế mới phát hiện mình thuộc diện phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân và đối diện nguy cơ bị xử phạt hành chính do chậm nộp hồ sơ khai thuế.

Sau bài viết Số hóa quản lý thuế sao chưa giảm chi phí tuân thủ phản ánh thực trạng chi phí tuân thủ thuế đang trở thành gánh nặng với không ít cá nhân, câu hỏi tiếp tục được đặt ra là: Vì sao ngành Thuế đã số hóa dữ liệu rất mạnh nhưng người nộp thuế vẫn phải “tự bơi” trong việc xác định nghĩa vụ của mình?

Dữ liệu đã số hóa nhưng nghĩa vụ vẫn vận hành theo tư duy cũ

Nhiều năm qua, ngành Thuế liên tục đẩy mạnh chuyển đổi số, triển khai hóa đơn điện tử, eTax Mobile, kết nối dữ liệu thu nhập và hỗ trợ kê khai trực tuyến. Theo thông tin từ Cục Thuế, hệ thống hiện đã có khả năng tổng hợp dữ liệu thu nhập của cá nhân từ nhiều nguồn chi trả khác nhau để phục vụ quản lý thuế.

Điều đó có nghĩa, về mặt công nghệ, cơ quan thuế đã tiến rất xa trong khả năng thu thập và đối chiếu dữ liệu.

Nhưng ở chiều ngược lại, nghĩa vụ tuân thủ của người nộp thuế lại chưa thay đổi tương ứng.

Dù eTax hiện đã có chức năng tổng hợp dữ liệu thu nhập, gợi ý nghĩa vụ quyết toán và hỗ trợ lập tờ khai, phần lớn trách nhiệm phát hiện sai sót, kê khai bổ sung và xử lý hoàn, bù trừ nghĩa vụ thuế vẫn thuộc về người nộp thuế.

Và nếu chậm nộp hồ sơ khai thuế, cá nhân vẫn có thể bị xử phạt tới 12,5 triệu đồng theo quy định tại Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.

Nghịch lý nằm ở chỗ: dữ liệu đã được điện tử hóa nhưng cơ chế quản lý và quy trình nghiệp vụ vẫn vận hành theo logic của thời kê khai giấy tờ.

Công nghệ đi nhanh nhưng quy trình quản trị chưa thay đổi tương ứng

Luật Quản lý thuế hiện hành được xây dựng trên nguyên tắc người nộp thuế tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm về nghĩa vụ thuế.

Nguyên tắc này phù hợp trong bối cảnh dữ liệu còn phân tán, cơ quan quản lý không có đầy đủ thông tin để xác định nghĩa vụ của từng cá nhân.

Nhưng khi dữ liệu đã tập trung về hệ thống, cơ quan thuế đã có khả năng biết cá nhân có bao nhiêu nguồn thu nhập; phát sinh khoản chi trả nào; có dấu hiệu thiếu nghĩa vụ quyết toán hay không. Như vậy, trách nhiệm hỗ trợ tuân thủ cũng cần thay đổi tương ứng.

Thực tế hiện nay cho thấy chuyển đổi số trong lĩnh vực thuế mới chủ yếu mạnh ở khâu thu thập dữ liệu; quản lý dữ liệu; phát hiện sai lệch; phục vụ hậu kiểm và xử phạt.

Trong khi đó, các chức năng người nộp thuế cần như cảnh báo nghĩa vụ, nhắc hạn quyết toán, hỗ trợ nhận biết rủi ro vi phạm, phòng ngừa sai sót từ sớm vẫn còn khá mờ nhạt.

Điều này khiến chi phí tuân thủ tiếp tục bị đẩy về phía người nộp thuế, đặc biệt là cá nhân có thu nhập từ nhiều nguồn hoặc lao động tự do trên nền tảng số.

“Không biết nghĩa vụ” đang trở thành một dạng rủi ro tuân thủ

Trao đổi với phóng viên, bà Lê Thị Thủy, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền và Hỗ trợ người nộp thuế - Tổng cục Thuế cho rằng công tác tuyên truyền trong bối cảnh quản lý thuế số cần phải thay đổi mạnh từ “phổ biến chính sách chung” sang “cảnh báo và hỗ trợ theo từng nhóm người nộp thuế”.

Theo bà Thủy, nhiều cá nhân hiện nay không cố tình né tránh nghĩa vụ thuế mà thực sự không biết mình thuộc diện phải quyết toán hoặc có thêm thu nhập phát sinh từ nhiều nơi. Khi hệ thống đã có đầy đủ dữ liệu, cơ quan thuế hoàn toàn có thể chủ động gửi cảnh báo sớm cho người nộp thuế để giảm vi phạm không cố ý và giảm áp lực xử phạt sau này.

Đây cũng là điểm đang bộc lộ khoảng trống lớn trong quản lý thuế cá nhân hiện nay.

Bởi trên thực tế thu nhập đã được ghi nhận trên hệ thống, dữ liệu đã được đồng bộ nhưng nghĩa vụ quyết toán vẫn phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tự nhận biết của từng cá nhân.

Nói cách khác, công nghệ đã thay đổi nhưng triết lý quản lý vẫn chưa thay đổi tương ứng.

Số hóa thủ tục chưa đồng nghĩa với cải cách quản trị

Một trong những biểu hiện rõ nhất của khoảng cách này là cơ chế hoàn và bù trừ thuế.

Hiện nay, người nộp thuế có thể nộp thuế trực tuyến gần như tức thời thông qua eTax Mobile hoặc cổng dịch vụ công điện tử. Tuy nhiên, việc hoàn thuế và xử lý nghĩa vụ bù trừ vẫn phải đi qua quy trình kiểm tra, đối chiếu và xử lý hồ sơ theo cách thức truyền thống.

Điều đó cho thấy việc số hóa hiện nay mới chủ yếu dừng ở việc đưa thủ tục lên môi trường điện tử, trong khi quy trình nghiệp vụ phía sau vẫn vận hành theo mô hình cũ.

Vì vậy mới xuất hiện tình trạng dữ liệu đã có, hệ thống đã ghi nhận nhưng nhưng người dân vẫn phải tự kiểm tra nghĩa vụ của mình sau đó tự kê khai, tự giải trình. Nhiều khi, tới lúc nhận được quyết định xử phạt mới biết mình vi phạm.

Theo bà Lê Thị Thủy, một hệ thống thuế số hiện đại không nên chỉ mạnh ở khâu phát hiện vi phạm mà cần tiến tới khả năng phòng ngừa vi phạm từ sớm bằng dữ liệu và cảnh báo chủ động cho người nộp thuế. “Chuyển đổi số trong thuế chỉ thực sự thành công khi người nộp thuế cảm nhận được hệ thống đang đồng hành và hỗ trợ tuân thủ, chứ không chỉ giám sát và xử phạt”, bà Thủy nhận định.

Khi dữ liệu đã thuộc về hệ thống, trách nhiệm hỗ trợ tuân thủ cũng cần thay đổi

Điều đáng chú ý là pháp luật hiện hành đang phân biệt rất rõ trách nhiệm của người nộp thuế nhưng lại chưa đặt ra đầy đủ trách nhiệm cảnh báo nghĩa vụ trong môi trường dữ liệu số.

Trong khi đó, thực tế cho thấy nhiều trường hợp cá nhân không che giấu thu nhập, đã nộp đủ tiền thuế còn thiếu nhưng vẫn bị xử phạt rất nặng do chậm nộp hồ sơ khai thuế nhiều năm vì không nhận biết nghĩa vụ phát sinh.

Điều này đặt ra yêu cầu cần nhìn lại mô hình quản lý thuế cá nhân trong bối cảnh dữ liệu đã thay đổi căn bản.

Bởi nếu chuyển đổi số chỉ giúp cơ quan quản lý tăng khả năng thu thập dữ liệu và phát hiện vi phạm mà không làm thay đổi quy trình quản lý, cơ chế hỗ trợ và trách nhiệm cảnh báo nghĩa vụ thì chi phí tuân thủ sẽ tiếp tục bị đẩy về phía người nộp thuế.

Và khi công nghệ đã thay đổi nhưng tư duy quản lý vẫn vận hành theo logic cũ, chuyển đổi số rất dễ dừng lại ở mức số hóa thủ tục thay vì trở thành một cuộc cải cách quản trị thực sự./.