TS Nguyễn Quốc Việt, Cục Thuế - Bộ Tài chính trao đổi các quy định về nghĩa vụ thuế đối với các cá nhân kinh doanh trên nền tảng số:
KOL, KOC, Affiliate hay nhà sáng tạo nội dung số là những tên gọi phổ biến đối với cá nhân hoạt động trên nền tảng số, không phải các loại thu nhập riêng được pháp luật thuế quy định. Vì vậy, theo TS Nguyễn Quốc Việt, trưởng phòng Phòng Quản lý thuế số 1 - Chi cục Thuế thương mại điện tử, Cục Thuế - Bộ Tài chính, khi xác định nghĩa vụ thuế cần căn cứ vào bản chất quan hệ tạo ra thu nhập, hợp đồng, hồ sơ và hoạt động thực tế.
Theo phân tích của TS Việt, trường hợp cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động với tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thì khoản nhận được được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công và đơn vị trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
Trường hợp cá nhân độc lập sáng tạo nội dung số, quảng bá, tiếp thị liên kết trên các nền tảng và nhận thu nhập từ nền tảng hoặc nhãn hàng mà không có quan hệ lao động thì khoản thu này được xác định là thu nhập từ kinh doanh. Khi đó, cá nhân được xác định là cá nhân kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ đăng ký, kê khai, nộp thuế theo quy định.
“Không phải cứ là KOL, KOC hay Affiliate thì mặc nhiên là cá nhân kinh doanh mà trước hết phải xác định bản chất thu nhập phát sinh để xác định nghĩa vụ thuế phù hợp với từng loại thu nhập”, TS Việt cho biết.
Với các khoản tiền quảng cáo, livestream bán hàng, hoa hồng Affiliate, booking hoặc tiền thưởng từ nền tảng, việc xác định doanh thu cũng phải căn cứ vào hoạt động thực tế tạo ra khoản thu. Đối với tiền donate, tip hoặc quà tặng trong livestream, cần xem xét bản chất của khoản tiền để xác định đây là doanh thu từ hoạt động kinh doanh hay khoản cho, tặng độc lập với hoạt động kinh doanh.
Theo TS Việt, nếu được xác định là doanh thu kinh doanh thì doanh thu không chỉ gồm số tiền thực nhận sau khi nền tảng đã trừ phí. Pháp luật thuế năm 2026 quy định doanh thu kinh doanh bao gồm tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ, các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thanh toán, hỗ trợ bằng tiền hoặc không bằng tiền và các khoản doanh thu khác liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Người có nhiều nguồn thu cũng phải phân loại từng nhóm doanh thu để áp dụng đúng tỷ lệ thuế. Chẳng hạn, doanh thu từ bán hàng hóa và doanh thu từ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số, quảng cáo số có thể áp dụng tỷ lệ thuế khác nhau.
Nền tảng khấu trừ thuế nhưng cá nhân vẫn phải đối soát
Một điểm đáng chú ý trong cơ chế quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng là việc khấu trừ, khai và nộp thuế thay tại nguồn đối với các giao dịch qua nền tảng có chức năng đặt hàng và thanh toán trực tuyến.
Đối với khoản doanh thu đã được nền tảng khấu trừ, kê khai và nộp thay đúng quy định, cá nhân không phải kê khai, nộp lại thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với chính giao dịch đó.
Tuy nhiên, theo TS Việt, không phải mọi khoản tiền do nền tảng chuyển cho cá nhân đều mặc nhiên đã được nộp thuế thay. Người nộp thuế cần kiểm tra, đối soát để xác định khoản nào đã được khấu trừ và khoản nào chưa.
Trường hợp cá nhân đồng thời có doanh thu từ bán hàng, chia sẻ doanh thu quảng cáo hoặc các nguồn thu khác, có thể xảy ra tình trạng một số khoản đã được nền tảng khấu trừ, nộp thay trong khi khoản khác chưa được thực hiện. Với phần doanh thu chưa được khấu trừ, cá nhân phải chủ động thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định.
TS Việt cũng lưu ý, trường hợp tổng doanh thu thực tế từ toàn bộ hoạt động kinh doanh trong năm từ 1 tỷ đồng trở xuống nhưng trong năm đã bị nền tảng khấu trừ thuế thì số thuế đã khấu trừ được xử lý theo cơ chế bù trừ, hoàn trả theo quy định.
Để hạn chế vướng mắc, người làm nội dung số cần theo dõi doanh thu ngay từ khi bắt đầu hoạt động, lưu giữ hợp đồng booking, hợp đồng quảng cáo, điều khoản Affiliate, báo cáo doanh thu của các nền tảng, bảng đối soát, sao kê ngân hàng, ví điện tử, hóa đơn và chứng từ khấu trừ thuế.
TS Việt khuyến nghị người làm nội dung số thực hiện theo nguyên tắc: xác định đúng bản chất thu nhập, tổng hợp đầy đủ các nguồn doanh thu, phân loại đúng hoạt động, đối chiếu số thuế đã được khấu trừ và lưu giữ đầy đủ chứng từ.
Căn cứ pháp lý: Điều 5, Điều 8, Điều 11, Điều 13 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP; Nghị định số 141/2026/NĐ-CP; Nghị định số 117/2025/NĐ-CP; Nghị định số 253/2026/NĐ-CP; Điều 7 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15 và Luật số 09/2026/QH16; Thông tư số 18/2026/TT-BTC và Thông tư số 90/2026/TT-BTC.
