Luật Căn cước sửa đổi với 7 chương, 46 điều được đánh giá là chặt chẽ, tính khả thi cao. Điều này cho thấy một quá trình xây dựng Luật nghiêm túc và có sự đúc kết từ những vấn đề từ thực tiễn và cả kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới. Phóng viên VOV2 đã có cuộc trao đổi với Đại tá Trần Quốc Toàn – Trưởng phòng Pháp luật hành chính, kinh tế, dân sự - Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp (Bộ Công an) về nội dung này.

PV: Thưa ông, Luật Căn cước được xây dựng dựa trên những quan điểm, định hướng, mục tiêu nào?

Đại tá Trần Quốc Toàn: Để thực hiện nhiệm vụ mà Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030 của Đại hội Đảng khóa XIII đã đề ra là đẩy mạnh xây dựng Chính phủ điện tử, tiến tới Chính phủ số, trong đó tập trung phát triển hạ tầng số phục vụ các cơ quan nhà nước một cách tập trung, thông suốt; thiết kế đồng bộ, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống tích hợp, kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu lớn, nhất là dữ liệu về dân cư, y tế, giáo dục, bảo hiểm, doanh nghiệp, đất đai, nhà ở, phục vụ kịp thời, hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân, bảo đảm 100% dân số được đăng ký và quản lý thì việc xây dựng Luật Căn cước có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết.

Việc xây dựng Luật Căn cước nhằm mục tiêu sau:

- Phục vụ giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Như hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến thiết yếu (như lĩnh vực cư trú, hộ tịch, bảo hiểm xã hội, giáo dục, y tế, đất đai, lao động...) để phục vụ người dân, doanh nghiệp trên cơ sở sử dụng xác thực, chia sẻ bằng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

- Phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Nghiên cứu, triển khai việc ứng dụng các tính năng của chíp điện tử trên thẻ căn cước đối với các lĩnh vực tài chính, ngân hàng và một số lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội khác. Tích hợp thông tin và phát triển các tiện tích trên ứng dụng định danh quốc gia (VNeID).

- Phục vụ công dân số. Hiện nay, người dân có rất nhiều loại giấy tờ khác nhau, như căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, các loại bằng cấp, chứng chỉ… Nhằm tạo điều kiện cho công dân, cần phải xác thực 100% các thông tin thiết yếu, quan trọng trên ứng dụng VNeID hoặc qua thẻ căn cước gắn chíp điện tử như: Thông tin tiêm chủng, xét nghiệm, giấy phép lái xe, đăng ký xe… từng bước thay thế các giấy tờ của người dân trong một số các giao dịch theo quy định pháp luật. Cung cấp các dịch vụ công, dịch vụ thương mại phục vụ tiện ích số của công dân trên ứng dụng VNeID như: Dịch vụ cư trú, căn cước công dân, thương mại điện tử, thanh toán điện tử và các dịch vụ khác.

- Hoàn thiện hệ sinh thái phục vụ kết nối, khai thác, bổ sung làm giàu dữ liệu dân cư. Triển khai hiệu quả việc kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác, cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã có như: Cơ sở dữ liệu giáo dục, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, cơ sở dữ liệu thuế…, bảo đảm giải quyết các thủ tục phục vụ người dân chính xác và thuận lợi.

- Phục vụ chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp. Trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các thông tin đã được tích hợp, sử dụng ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tổng hợp, phân tích, dự báo các thông tin để phục vụ việc điều hành Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hoạch định chính sách kinh tế, xã hội.

PV: Các nhóm quy định mới trong Luật Căn cước tạo ra sự thay đổi căn bản và khi triển khai sẽ có những tác động thực tiễn như thế nào, thưa ông?

Đại tá Trần Quốc Toàn: Về việc tích hợp thông tin vào thẻ căn cước và căn cước điện tử, đây là nội dung để cụ thể hoá nhiệm vụ tại Đề án số 06 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm phục vụ mục tiêu đơn giản hoá giấy tờ, thủ tục cho công dân, hướng tới mục tiêu xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, công dân số, đem lại nhiều lợi ích như:

Đối với cơ quan nhà nước: Giảm chi phí giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức khi sử dụng thẻ căn cước có gắn chíp hoặc căn cước điện tử đã được tích hợp các thông tin có liên quan đến lĩnh vực mình quản lý; không phải chi cho hoạt động in, sản xuất các giấy tờ cấp cho công dân (nếu công dân không có nhu cầu hoặc chỉ cần bản điện tử của giấy tờ đó). Cơ quan, tổ chức không phải tốn nhiều thời gian để kiểm tra, xác minh thông tin, giấy tờ do công dân cung cấp khi giải quyết các thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ hành chính công; giảm nhân lực để giải quyết thủ tục hành chính và quản lý hệ thống hồ sơ giấy tờ của công dân; phù hợp với xu hướng chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước.

Đối với tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân: Không phải tốn thời gian, công sức, chi phí để thực hiện việc trích lục, sao y, chứng thực, công chứng các loại giấy tờ của bản thân; giảm chi phí trong giải quyết thủ tục hành chính như bưu chính, kê khai nhiều loại giấy tờ khác nhau... Không phải bảo quản, mang theo nhiều loại giấy tờ khác nhau khi cần sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính, giao dịch dân sự hay các hoạt động khác cần phải xuất trình giấy tờ cá nhân.

Về việc bổ sung thông tin lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước, hiện nay việc kết nối, chia sẻ thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các bộ, ngành, địa phương đang được triển khai thực hiện quyết liệt đem lại những kết quả thiết thực, phục vụ có hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ hành chính công. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã tiết kiệm được chi phí trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu riêng hoặc không cần thiết phải xây dựng cơ sở dữ liệu riêng khi đã được kết nối, khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung là xu thế chung của các nước trên thế giới hiện nay. Do vậy, việc quy định về bổ sung thông tin lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân tại dự thảo Luật là cần thiết. Việc đầu tư, nâng cấp, mở rộng, lưu trữ thông tin trong Cơ sử dữ liệu cơ sở quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân sẽ tiết kiệm hơn rất nhiều so với việc đầu tư các hệ thống riêng biệt để lưu trữ các thông tin này. Các thông tin được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cũng sẽ được chia sẻ phục vụ để việc khai thác chung cho các bộ, ngành, địa phương; cơ quan quản lý dữ liệu không phải thiết lập thêm các kênh kết nối, chia sẻ riêng đối với các thông tin đã được bổ sung, lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân.

Đối với tổ chức, doanh nghiệp và người dân: Sẽ giúp giảm chi phí khi thực hiện các giao dịch, giải quyết các vấn đề liên quan đến thông tin của người dân thông qua việc sử dụng các tiện ích của việc khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước.

Về việc bổ sung đối tượng được cấp thẻ Căn cước công dân và đối tượng được cấp giấy chứng nhận căn cước, Luật Căn cước bổ sung quy định cấp thẻ căn cước cho người dưới 14 tuổi; quy định này đem lại nhiều thuận lợi cho người dân. Thẻ căn cước với kích thước nhỏ gọn, chất liệu tốt, tính bảo mật, bảo an cao và còn có thể được tích hợp thêm rất nhiều thông tin khác theo nhu cầu của công dân sẽ mang lại nhiều tiện ích cho công dân trong việc đi lại (như đi máy bay, tàu hỏa…), học tập, khám chữa bệnh (như không cần phải mang theo thẻ Bảo hiểm y tế, Sổ tiêm chủng…) và thực hiện các giao dịch khác trong đời sống hàng ngày.

Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung quy định việc cấp giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống ở Việt Nam. Thực tiễn cho thấy tại nước ta có một bộ phận không nhỏ người gốc Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau liên quan đến lịch sử, chiến tranh, di cư… mà họ và các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương đều không có thông tin hoặc bất cứ giấy tờ nào chứng minh về nhân thân (những người này đều không đủ điều kiện cấp thẻ thường trú, tạm trú theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; không thể thực hiện khám chữa bệnh, nhập học, tham gia giao dịch dân sự cần chứng minh thông tin nhân thân…) nên để giải quyết tình trạng này, Luật Căn cước đã bổ sung quy định về quản lý căn cước, cấp giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam để nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của họ; tạo điều kiện cho họ trong thực hiện giao dịch dân sự, tham gia các hoạt động xã hội.

PV: Một trong những yếu tố quan trọng trong xây dựng Luật là tính khả thi khi triển khai. Cách thức quản lý dân cư trong Luật Căn cước dựa trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Nền tảng dữ liệu và liên thông kết nối hiện nay liệu có đảm bảo cho sự vận hành này, thưa ông? Đặc biệt là ở địa bàn dân cư xa xôi?

Đại tá Trần Quốc Toàn: Hiện nay, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã kết nối với 15 bộ, ngành và 63 địa phương; việc kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ nhiều hoạt động như: Kết nối với cổng dịch vụ công quốc gia, Văn phòng Chính phủ để xác thực số định danh cá nhân, căn cước công dân, xác thực thông tin chủ hộ, tra cứu thông tin công dân; kết nối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam để xác thực thông tin công dân; kết nối với Bộ Tư pháp để thực hiện cấp, hủy số định danh cá nhân cho trẻ em khai sinh; kết nối với Bộ Y tế để phục vụ rà soát thông tin tiêm chủng của công dân, phòng chống dịch Covid-19; kết nối, xác thực với Tập đoàn điện lực Việt Nam phục vụ nghiệp vụ ngành điện; kết nối, xác thực với Ban cơ yếu Chính phủ phục vụ rà soát thông tin cán bộ cơ yếu; kết nối với Tổng cục thuế, Bộ Tài chính để xác thực thông tin công dân, xác thực thông tin chủ hộ, tra cứu thông tin công dân phục vụ làm sạch dữ liệu ngành thuế, nghiệp vụ ngành thuế; thử nghiệm thành công dịch vụ xác thực thông tin công dân tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân thông qua trục tích hợp quốc gia của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Bộ Công an đã cấp được hơn 83,7 triệu thẻ căn cước công dân cho người đủ điều kiện cấp thẻ. Bên cạnh đó, ở nước ta hiện nay đang có tổng số thuê bao điện thoại được đăng ký và đang hoạt động trên toàn quốc là hơn 140 triệu, trong đó di động chiếm 93,3%. Hệ thống Internet đã phủ sóng trên 99,7% số thôn trên toàn quốc. Hệ thống cáp quang đã triển khai tới tất cả các xã, phường, thị trấn, trường học, 91% thôn bản. Vùng phủ 3G/4G đã lên tới 95% dân số đưa Việt Nam tiệm cận mức phổ cập Internet cao nhất, tương đương với những quốc gia phát triển. Như vậy, việc thực hiện giao dịch điện tử, thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử sẽ ngày càng phổ biến ở nước ta.

Do vậy, việc triển khai thi hành Luật Căn cước, nhất là việc kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng căn cước điện tử là hoàn toàn khả thi, sẽ đem lại hiệu quả cao trong thực hiện chuyển đổi số.

PV: Bên cạnh sự ủng hộ, một số người dân bày tỏ e ngại về những sự thay đổi mới được quy định trong Luật sẽ có thể tạo ra những phức tạp trong việc cấp đổi thẻ, khai báo thêm dữ liệu chẳng hạn như về mống mắt hay những trường thông tin khác. Cơ quan chức năng đã lên phương án như thế nào cho việc triển khai các điều khoản của Luật, thưa ông?

Đại tá Trần Quốc Toàn: Trong quá trình xây dựng Luật, Chính phủ và Quốc hội cũng đã tính toán đến các tác động đến người dân; nhất là sự thay đổi, điều chỉnh về thẻ căn cước, thu thập thông tin sinh trắc học và thu thập, cập nhật thông tin khác trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước. Theo đó, Luật Căn cước đã có nhiều quy định đầy đủ, chặt chẽ để hạn chế tối đa tác động bất lợi đến người dân, cụ thể như:

Tại khoản 1 Điều 10 Luật Căn cước năm 2023 quy định nguyên tắc thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được lấy từ các nguồn như từ tàng thư do lực lượng Công an nhân dân quản lý, từ Cơ sở dữ liệu căn cước, Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu hộ tịch và cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.

Chỉ trong trường hợp một số thông tin quy định tại các khoản 1, 4, 5, 7, 8, 9 và 11 Điều 9 của Luật Căn cước (họ và tên khai sinh, ngày, tháng năm sinh, nơi đăng ký khai sinh…) chưa có hoặc chưa đầy đủ thì cơ quan quản lý căn cước mới yêu cầu người dân cung cấp.

Tại điểm d khoản 1 Điều 16 Luật Căn cước năm 2023 quy định thông tin sinh trắc học về ADN và giọng nói được thu thập khi người dân tự nguyện cung cấp hoặc cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, cơ quan quản lý người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong quá trình giải quyết vụ việc theo chức năng, nhiệm vụ có thực hiện trưng cầu giám định hoặc thu thập được thông tin sinh trắc học về ADN, giọng nói của người dân thì chia sẻ cho cơ quan quản lý căn cước để cập nhật vào Cơ sở dữ liệu căn cước.

Bên cạnh đó, tại Điều 46 Luật Căn cước cũng có quy định chuyển tiếp, người dân không phải thực hiện cấp đổi sang thẻ căn cước khi vẫn có thẻ căn cước công dân còn giá trị sử dụng.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Dự án Luật Căn cước đã được Quốc hôi biểu quyết thông qua ngày 27/11/2023, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024. Theo đó, Luật gồm có 07 chương, 46 Điều với một số nội dung mới so với Luật Căn cước công dân năm 2014 như sau:

(1) Bổ sung quy định về căn cước điện tử. Luật Căn cước năm 2023 quy định mỗi công dân chỉ có 01 căn cước điện tử; căn cước điện tử sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công và thực hiện các giao dịch, hoạt động khác theo nhu cầu của công dân.

(2) Quy định việc tích hợp thông tin vào thẻ căn cước và căn cước điện tử. Theo đó, một số thông tin có tính ổn định, được sử dụng thường xuyên của người dân ngoài thông tin trong Cơ sở dữ liệu căn cước (như thẻ bảo hiểm y tế, giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn…) sẽ được bổ sung, tích hợp vào thẻ căn cước và căn cước điện tử theo đề nghị của người dân. Quy định này sẽ giúp giảm giấy tờ cho người dân trong việc lưu trữ, bảo quản, sử dụng các loại giấy tờ đã được tích hợp vào thẻ căn cước, căn cước điện tử; tạo thuận lợi cho người dân trong thực hiện giao dịch dân sự, thực hiện chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính.

(3) Quy định việc cấp thẻ căn cước cho người dưới 14 tuổi để bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của họ; phát huy giá trị, tiện ích của thẻ căn cước trong hoạt động của Chính phủ số, xã hội số; giúp giảm bớt nhiều loại giấy tờ và tăng cường tính tiện lợi khi tham gia các dịch vụ xã hội như tiêm chủng, khám chữa bệnh, học tập… Việc cấp thẻ căn cước cho người dưới 14 tuổi sẽ thực hiện theo nhu cầu.

(4) Quy định việc cấp giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam; quy định này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của người gốc Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam; đồng thời, phục vụ tốt hơn nữa trong công tác quản lý nhà nước về dân cư.

(5) Quy định việc thu thập, cập nhật, quản lý, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước theo hướng mở rộng hơn những thông tin được thu thập, lưu trữ, khai thác trong 02 cơ sở dữ liệu này (như thông tin về sinh trắc học, về số điện thoại di động…) để đẩy mạnh việc chuyển đổi số, đem lại nhiều tiện ích hơn cho người dân trong việc thực hiện thủ tục hành chính, giao dịch dân sự và các hoạt động khác trong xã hội số.

(6) Điều chỉnh một số thông tin trên thẻ căn cước để tạo thuận lợi hơn cho người dân trong quá trình sử dụng thẻ căn cước, hạn chế việc phải cấp đổi thẻ căn cước và bảo đảm tính riêng tư của người dân như lược bỏ thông tin vân tay được in trên thẻ (thông tin này sẽ được lưu trữ trong chíp) và sửa đổi thông tin số thẻ căn cước, dòng chữ “căn cước công dân”, quê quán, nơi thường trú, chữ ký của người cấp thẻ thành “số định danh cá nhân”, dòng chữ “thẻ căn cước”, nơi đăng ký khai sinh, nơi cư trú... Đối với những thẻ căn cước công dân đã cấp thì vẫn còn nguyên giá trị sử dụng, không bị tác động bởi quy định này.

Nghe âm thanh tại đây: