Những thách thức trong công tác dân số hiện nay

Xã hội hiện đại, người trẻ ngày nay có nhiều cơ hội học tập, làm việc hơn, song cũng chịu không ít áp lực về cơm áo gạo tiền nên dẫn đến tâm lý ngại kết hôn sinh con. Nhiều gia đình trẻ lựa chọn sinh một con để giảm gánh nặng chi phí sinh hoạt, nuôi con và dạy con.

“Hai vợ chồng đều ở tỉnh ra Hà Nội làm thuê, còn phải thuê nhà trọ để ở, nuôi một đứa con ăn học tốn kém, không đủ tiền nuôi nên đẻ một con thôi” – một bạn trẻ ở phố Vũ Trọng Phụng, Hà Nội cho biết.

Xu hướng ngại kết hôn sinh con và sinh con ít đã và đang tác động nghiêm trọng đến mức sinh tại nước ta.

Theo báo cáo sơ kết 5 năm (giai đoạn 2020-2025) của Bộ Y tế, mức sinh của nước ta xuống thấp dưới mức sinh thay thế, giảm từ 2,11 con/phụ nữ (năm 2021) xuống còn 1,91 con/phụ nữ (năm 2024), không đạt được mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế trên toàn quốc giai đoạn 2020-2024 và ước khó đạt mục tiêu đến năm 2030. Bà Đặng Quỳnh Thư - Cục Dân số, Bộ Y tế cho biết, nếu không có giải pháp kịp thời thì dân số Việt Nam sẽ tăng trưởng âm, tạo áp lực lớn lên lực lượng lao động và an sinh xã hội.

Theo dự đoán 2019-2069 của Tổng cục Thống kê, xu hướng thay đổi mức sinh đến 2069 được dự đoán theo 3 phương án, đó là phương án thấp, trung bình và phương án cao. Theo kết quả dự báo thì dân số VN năm 2069 sẽ là 116,9 triệu người theo phương án trung bình. 111 triệu người theo phương án thấp và 222 triệu người theo phương án cao. Trường hợp mức sinh giảm mạnh thì sau năm 2054, dân số VN sẽ bắt đầu tăng trưởng âm và ở cuối thời kỳ dự báo, dân số Việt Nam sẽ giảm bình quân 200.000ng/năm. Mức sinh giảm dẫn đến hệ lụy thiếu hụt lao động, làm thúc đẩy nhanh tốc độ già hóa dân số”, bà Đặng Quỳnh Thư nhận định.

Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2011 và dự kiến trở thành nước có dân số già sau năm 2036. Tuổi thọ bình quân đạt 74,7 tuổi vào năm 2024, nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ đạt khoảng 65 năm, tạo ra khoảng cách lớn giữa “sống lâu” và “sống khỏe,” kéo theo nhu cầu chăm sóc sức khỏe dài hạn ngày càng tăng.

Song song với đó, tỷ số giới tính khi sinh vẫn ở mức cao không kiểm soát: 111,4 bé trai/100 bé gái năm 2024, báo hiệu nguy cơ dư thừa nam giới trong tương lai.

Ông Lê Thanh Dũng - Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế) cho biết, Việt Nam đang đứng trước bốn thách thức lớn về dân số, đó là mức sinh giảm thấp, tỷ số giới tính khi sinh vẫn ở mức cao, già hóa dân số nhanh tác động đến phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng dân số thấp đòi hỏi cần có đầu tư cho công tác dân số.

Đầu tư cho công tác dân số trong giai đoạn tới không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà cần thiết được cụ thể hóa thành chính sách, hành động cụ thể để những thách thức biến thành cơ hội khi chưa quá muộn.

Luật dân số: Cơ hội để giải quyết các vấn đề về dân số hiện nay

Trao đổi với phóng viên VOV2, ông Nguyễn Hồng Ngọc – Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa và Xã hội, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: Luật Dân số được Quốc hội thông qua nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ để góp phần thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về dân số và khắc phục các hạn chế khó khăn, đáp ứng yêu cầu công tác dân số và phát triển trong tình hình mới; thể chế hóa một trong các nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, đó là gia tăng tỷ lệ sinh để đạt được mức sinh thay thế bền vững, bảo đảm thích ứng với già hóa dân số, có chính sách nâng cao chất lượng dân số.

“Luật dân số bảo đảm việc chủ động, tự nguyện, bình đẳng và đề cao trách nhiệm của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng, gia đình trong việc thực hiện công tác dân số. Bảo đảm cân bằng, hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của người dân, của doanh nghiệp, trách nhiệm của Nhà nước. Nội dung này thể hiện ở điều 13 Luật dân số quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng trong việc sinh con, chăm sóc sức khỏe sinh sản và khoản 1 điều này quy định mỗi cá nhân, cặp vợ chồng quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, thu nhập và nuôi dạy con của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng”, ông Nguyễn Hồng Ngọc nói.

Chia sẻ với những khó khăn của các gia đình trẻ trong việc chịu áp lực khi sinh và nuôi dạy con, ông Nguyễn Hồng Ngọc đề xuất, cần hệ thống chính sách đồng bộ, dài hạn căn cơ, quan trọng là nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng, gia đình, từng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về việc gia tăng tỷ lệ sinh thông qua sinh từ 2 con trở lên để duy trì mức sinh thay thế bền vững; tạo điều kiện cho các cá nhân, cặp vợ chồng có thể kết hợp hài hòa giữa việc sinh con, nuôi dạy con có trách nhiệm và thăng tiến xã hội thông qua các chính sách an sinh xã hội.

“Tôi mong rằng việc thực hiện chính sách dân số và phát triển thực sự sẽ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, mỗi cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, tổ chức và toàn xã hội. Tập trung nâng cao cao nhận thức của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng, gia đình, từng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về việc thực hiện gia tăng tỷ lệ sinh thông qua sinh từ 2 con trở lên để duy trì mức sinh thay thế bền vững”.

Dân số không chỉ là những con số thống kê, mà là câu chuyện gắn liền với mỗi gia đình, mỗi cộng đồng và tương lai phát triển của đất nước. Vì vậy, người dân Việt Nam đang chờ đợi khi Luật dân số được thực thi, đó không chỉ là văn bản pháp luật trên giấy tờ mà thực sự đi vào cuộc sống, hướng tới một xã hội phát triển bền vững, nơi mỗi gia đình và mỗi con người đều được quan tâm và tạo điều kiện phát triển.