Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định rõ nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu, kiểm phiếu và xác định kết quả bầu cử.
Mỗi cử tri một phiếu, tự mình đi bầu
Theo Điều 69 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và một phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tương ứng với mỗi cấp. Cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu thay, trừ các trường hợp luật định; khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri.
Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu thì được nhờ người khác viết hộ nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu. Cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ đến nơi ở, nơi điều trị để cử tri thực hiện quyền bầu cử.
Điều 71 quy định thời gian bỏ phiếu từ 7 giờ đến 19 giờ cùng ngày; có thể bắt đầu sớm hơn nhưng không trước 5 giờ và kết thúc muộn hơn nhưng không quá 21 giờ. Việc bỏ phiếu phải tiến hành liên tục; nếu có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn, Tổ bầu cử phải niêm phong hòm phiếu và báo cáo Ban bầu cử để xử lý theo thẩm quyền.
Kiểm phiếu công khai, có chứng kiến của cử tri
Theo Điều 73, việc kiểm phiếu được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi kết thúc bỏ phiếu; phải mời hai cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến. Người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức giới thiệu người ứng cử và phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.
Điều 74 xác định các trường hợp phiếu không hợp lệ, gồm: phiếu không theo mẫu; không có dấu của Tổ bầu cử; bầu quá số lượng đại biểu được ấn định; gạch xóa hết tên người ứng cử; ghi thêm tên ngoài danh sách hoặc nội dung khác.
Sau kiểm phiếu, Tổ bầu cử phải lập biên bản với đầy đủ các nội dung: tổng số cử tri; số cử tri đã bỏ phiếu; số phiếu phát ra, thu vào; số phiếu hợp lệ, không hợp lệ; số phiếu cho từng người ứng cử; tình hình khiếu nại, tố cáo (Điều 76).
Công nhận và công bố kết quả bầu cử
Điều 78 quy định, kết quả bầu cử chỉ được công nhận khi có quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách tham gia bầu cử. Người trúng cử phải đạt quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ.
Trường hợp số người đạt quá một nửa nhiều hơn số đại biểu được bầu thì chọn theo số phiếu từ cao xuống thấp; nếu bằng phiếu ở cuối danh sách thì người nhiều tuổi hơn trúng cử.
Đối với bầu cử thêm hoặc bầu cử lại, luật quy định thời hạn tổ chức chậm nhất là 7 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên (Điều 79, Điều 80).
Theo Điều 86, Hội đồng Bầu cử quốc gia công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là 10 ngày sau ngày bầu cử; Ủy ban bầu cử công bố kết quả đại biểu Hội đồng nhân dân cùng thời hạn.
Khiếu nại về kết quả bầu cử phải gửi trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày công bố; cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong 7 ngày và quyết định là cuối cùng (Điều 87).
Luật cũng quy định việc xác nhận tư cách người trúng cử và cấp giấy chứng nhận đại biểu khóa mới sau khi hoàn tất tổng kết, giải quyết khiếu nại, tố cáo (Điều 88).
Mời tham khảo văn bản hợp nhất Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND tại đây.
