Mời nghe luật sư Trần Xuân Tiền, Trưởng văn phòng luật sư Đồng đội tư vấn về quy định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết:

Một thính giả nêu băn khoăn:

Vợ tôi đã đi khỏi nhà đến nay là 10 năm. Trước khi đi, vợ tôi không hề bàn bạc trước với tôi mà chỉ để lại bức thư nói đi làm ăn xa cùng với bạn. Hai năm đầu, thỉnh thoảng tôi còn nhận được điện thoại của vợ hỏi thăm về con cái, gia đình. Nhưng mỗi lần gọi là một số điện thoại khác nhau nên tôi không thể liên lạc lại. Tôi cũng nhiều lần đi tìm vợ, nhờ cả người quen nhưng đều không có thông tin. Khi còn chung sống, chúng tôi có 1 con chung và ngôi nhà hiện tại tôi đang ở. Nay, tôi muốn bán nhà cũng như muốn bắt đầu cuộc sống riêng mới nhưng lại lo lỡ sau này vợ tôi trở về. Vậy tôi có thể tuyên bố vợ mất tích hay làm đơn phương ly hôn không?

Luật sư Trần Xuân Tiền, Trưởng văn phòng luật sư Đồng đội cho biết, căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, một người có thể bị Tòa án tuyên bố mất tích khi đáp ứng các điều kiện sau:

- Biệt tích 02 năm liền trở lên;

- Mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết;

- Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Căn cứ Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

- Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

- Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ vào các trường hợp quy định nêu trên, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Bên cạnh đó, trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Đối với tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì dù người vợ/chồng đã bỏ đi nhiều năm, người còn lại không có toàn quyền định đoạt hay tự ý bán nhà nếu chưa có quyết định hợp pháp của Tòa án.

Chỉ khi Tòa án đã tuyên bố người vợ mất tích và giải quyết ly hôn, chia tài sản, hoặc chỉ định người chồng là người quản lý tài sản của người mất tích theo Bộ luật Dân sự 2015, thì việc định đoạt tài sản mới bảo đảm an toàn pháp lý. Nếu tự ý bán khi chưa đủ căn cứ, giao dịch có nguy cơ bị vô hiệu khi người đó quay về.

Chính vì vậy, trong trường hợp không thể liên hệ với người vợ/chồng, để bán nhà hợp pháp và tránh rủi ro tranh chấp cần phải đi theo đúng trình tự pháp luật:

Thứ nhất, làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố người vợ mất tích theo Điều 68 Bộ luật dân sự 2015

Thứ hai, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đơn phương và chia tài sản chung hoặc chỉ định người quản lý phần tài sản của người mất tích.

Thứ ba, chỉ sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, việc bán nhà mới được công chứng và có giá trị pháp lý an toàn.