Mời nghe cuộc trao đổi giữa phóng viên VOV2 với Luật sư Trần Xuân Tiền, Trưởng Văn phòng luật sư Đồng đội:

Theo Bộ Nội vụ, trong năm 2025, tai nạn lao động trong khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động vẫn có sự gia tăng, năm 2025 đã xảy ra 146 vụ tai nạn lao động làm 150 người chết, tăng 4,29% so với năm 2024.

Thống kê từ hệ thống y tế về số người đến sơ cấp cứu và điều trị lần đầu về tai nạn lao động từ các bệnh viện là 17.202 trường hợp. Tổng chi phí cho tai nạn lao động và thiệt hại tài sản thống kê chưa đầy đủ hơn 14.068 tỷ đồng. Bên cạnh đó, thiệt hại về tài sản do các vụ tai nạn lao động gây ra ước tính hơn 25 tỷ đồng.Ngoài những tổn thất trực tiếp về kinh tế, tai nạn lao động còn gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người lao động.

Nguyên nhân của thực trạng này là do nhiều người sử dụng lao động chưa quan tâm, chú ý thực hiện quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động; lơ là và còn mang tính hình thức trong tổ chức quản lý, kiểm soát công tác an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Nhiều người lao động chưa được huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, thiếu kiến thức, kỹ năng làm việc an toàn và tác phong công nghiệp còn hạn chế. Chính quyền cơ sở ở một số nơi cũng chưa thực sự quan tâm, dành nguồn lực cho công tác an toàn, vệ sinh lao động.

Luật sư Trần Xuân Tiền, Trưởng Văn phòng luật sư Đồng đội cho biết, Khoản 8, Điều 3, Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 (Luật số 84/2015/QH13) quy định, tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Tai nạn lao động có thể xảy ra tại nơi làm việc; trong giờ làm việc; hoặc ngoài nơi làm việc và ngoài giờ làm việc khi người lao động thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động; bị tai nạn trên đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc ngược lại.

Việc phân loại tai nạn lao động theo Điều 9 Nghị định 39/2016/NĐ-CP quy định gồm 3 loại như sau:

(1) Tai nạn lao động làm chết người lao động (sau đây gọi tắt là tai nạn lao động chết người) là tai nạn lao động mà người lao động bị chết thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Chết tại nơi xảy ra tai nạn;

+ Chết trên đường đi cấp cứu hoặc trong thời gian cấp cứu;

+ Chết trong thời gian điều trị hoặc chết do tái phát của vết thương do tai nạn lao động gây ra theo kết luận tại biên bản giám định pháp y;

+ Người lao động được tuyên bố chết theo kết luận của Tòa án đối với trường hợp mất tích.

(2) Tai nạn lao động làm người lao động bị thương nặng

(3) Tai nạn lao động làm người lao động bị thương nhẹ

Khoản 3 Điều 3 Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH có quy định về bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Theo đó, người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động khi tai nạn xảy ra không có lỗi của người lao động. Mức bồi thường như sau:

Suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động: Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương.

Suy giảm từ 11% đến 80%: Ngoài 1,5 tháng lương cho mức 10%, cứ tăng thêm 1% suy giảm thì cộng thêm 0,4 tháng tiền lương.

Suy giảm từ 81% trở lên hoặc chết: Ít nhất bằng 30 tháng tiền lương.

Ngoài khoản bồi thường hoặc trợ cấp từ người sử dụng lao động, người lao động bị tai nạn còn có thể được hưởng các chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 nếu có tham gia bảo hiểm. Cụ thể, tùy theo mức độ suy giảm khả năng lao động, người lao động có thể được hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hằng tháng; trường hợp suy giảm nặng, không tự phục vụ được còn được hưởng thêm trợ cấp phục vụ.

Bên cạnh đó, họ còn được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình, hỗ trợ chi phí phục hồi chức năng và tạo điều kiện để học nghề, chuyển đổi công việc nếu không thể tiếp tục công việc cũ. Trong trường hợp người lao động tử vong do tai nạn lao động, thân nhân của họ cũng được hưởng các chế độ tử tuất theo quy định.

Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện bồi thường thì trước hết, người lao động nên yêu cầu trực tiếp người sử dụng lao động thực hiện nghĩa vụ bồi thường, kèm theo các tài liệu như biên bản tai nạn lao động, hồ sơ y tế, kết luận giám định suy giảm khả năng lao động. Nếu doanh nghiệp vẫn không giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng, người lao động có thể gửi đơn khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động tại địa phương để được kiểm tra, xử lý vi phạm.

Trong trường hợp cần thiết, người lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động tại Tòa án nhân dân cấp huyện (nay là tòa án khu vực) nơi doanh nghiệp đặt trụ sở để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Trong trường hợp tai nạn lao động xảy ra do lỗi của chính người lao động, pháp luật vẫn có cơ chế bảo vệ nhất định nhưng mức hưởng sẽ bị giảm so với trường hợp không có lỗi. Theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động không được bồi thường đầy đủ mà chỉ được trợ cấp từ người sử dụng lao động, với mức tối thiểu bằng 40% mức bồi thường tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng dù lỗi thuộc về người lao động thì người sử dụng lao động vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ cơ bản như: thanh toán chi phí y tế từ sơ cứu, cấp cứu đến điều trị ổn định và trả lương trong thời gian người lao động nghỉ điều trị. Đây là trách nhiệm mang tính bắt buộc, không phụ thuộc vào yếu tố lỗi.

Bên cạnh đó, nếu người lao động có tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì vẫn được hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định