Các báo cáo tại hội nghị đều khẳng định, những năm gần đây, miễn dịch trị liệu, điều trị nhắm trúng đích, y học chính xác, sinh học phân tử, giải trình tự gen và các kỹ thuật hiện đại của y học hạt nhân đã tạo ra những bước tiến vượt bậc trong chẩn đoán và điều trị ung thư. Các thành tựu này không chỉ giúp phát hiện sớm bệnh, đánh giá chính xác giai đoạn ung thư mà còn hỗ trợ lựa chọn phác đồ điều trị tối ưu, theo dõi đáp ứng và phát hiện tái phát hiệu quả hơn.

Trong xu thế đó, miễn dịch trị liệu ung thư đã và đang trở thành một cuộc cách mạng thực sự của y học hiện đại, mở ra hướng điều trị mới cho nhiều loại ung thư, giúp cải thiện thời gian sống và chất lượng sống cho người bệnh.

Ung thư hiện vẫn là một trong những thách thức lớn nhất đối với hệ thống y tế toàn cầu. Theo số liệu GLOBOCAN 2022, Việt Nam ghi nhận hơn 182.000 ca mắc mới và trên 122.000 trường hợp tử vong do ung thư mỗi năm. Đây không chỉ là gánh nặng bệnh tật đối với người bệnh và gia đình, mà còn là thách thức lớn đối với hệ thống y tế, đối với năng lực quản trị bệnh viện, năng lực nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức mạng lưới chăm sóc ung thư trên phạm vi quốc gia.

PGS.TS.BS Phạm Cẩm Phương, Viện trưởng Viện Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, nếu trước đây điều trị ung thư chủ yếu dựa vào phẫu thuật, hóa trị và xạ trị thì hiện nay, điều trị đích và miễn dịch trị liệu đã trở thành những lựa chọn quan trọng.

Hiện nay, với mỗi người bệnh, việc lựa chọn phương pháp điều trị không còn chỉ dựa vào vị trí khối u mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại mô bệnh học, giai đoạn bệnh, tình trạng đột biến gene, thể trạng người bệnh cũng như mức độ bộc lộ các dấu ấn sinh học trên tế bào ung thư và tế bào miễn dịch. Nhờ đó, các bác sĩ có thể xây dựng phác đồ điều trị cá thể hóa, lựa chọn đúng phương pháp điều trị đích hoặc miễn dịch phù hợp với từng bệnh nhân, giúp nâng cao hiệu quả điều trị, đồng thời giảm tối đa tác dụng phụ và biến chứng”, theo PGS.TS.BS Phạm Cẩm Phương.

Việc chỉ định điều trị được cá thể hóa dựa trên đột biến gen, loại mô bệnh học, giai đoạn bệnh, thể trạng người bệnh cũng như sự bộc lộ các dấu ấn sinh học trên tế bào ung thư và tế bào miễn dịch. Nhờ đó, hiệu quả điều trị được nâng cao, đồng thời giảm đáng kể các tác dụng phụ và biến chứng cho người bệnh.

Đáng chú ý, các phương pháp điều trị tiên tiến này hiện không chỉ áp dụng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn mà đã mở rộng cho cả bệnh nhân mắc ung thư ở giai đoạn sớm. Điều này giúp kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân, giảm nguy cơ tái phát và cải thiện đáng kể tiên lượng cho người bệnh.

"Trước đây, nhiều bệnh nhân phát hiện ở giai đoạn muộn tiên lượng sống chỉ tính bằng tháng, nhưng hiện nay chúng tôi đã ghi nhận nhiều trường hợp sống thêm 8 năm, 10 năm dù được chẩn đoán ở giai đoạn muộn. Có thể nói, các tiến bộ trong điều trị đã góp phần thay đổi đáng kể hiệu quả điều trị ung thư tại Việt Nam, mang lại nhiều hy vọng hơn cho người bệnh", PGS.TS.BS Phạm Cẩm Phương cho biết.

Miễn dịch trị liệu không đơn thuần là bổ sung thêm một phương pháp điều trị mới bên cạnh phẫu thuật, hóa trị hay xạ trị. Sâu xa hơn, đây là một thay đổi căn bản trong tư duy điều trị ung thư.

Bên cạnh miễn dịch trị liệu, y học hạt nhân đang ngày càng khẳng định vai trò đặc biệt trong ung thư học hiện đại.

Theo PGS.TS.BS Đào Xuân Cơ - Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nếu trước đây, y học hạt nhân chủ yếu được biết đến với vai trò chẩn đoán hình ảnh chức năng, thì ngày nay, lĩnh vực này đang phát triển mạnh mẽ sang hướng điều trị cá thể hóa, điều trị phóng xạ nhắm trúng đích và đặc biệt là mô hình Theranostics – kết hợp chẩn đoán và điều trị trên cùng một nền tảng phân tử.

"Đây là một bước phát triển rất quan trọng của y học hiện đại. Bởi lẽ, thông qua các kỹ thuật như PET/CT, SPECT/CT và các dược chất phóng xạ đặc hiệu, chúng ta có thể nhìn thấy hoạt động sinh học của khối u, đánh giá mức độ biểu hiện thụ thể, lựa chọn người bệnh phù hợp và sau đó sử dụng chính cơ chế đích đó để điều trị. Nói cách khác, y học hạt nhân hiện đại không chỉ giúp chúng ta “nhìn thấy bệnh” mà còn giúp chúng ta “đánh trúng bệnh”. Đó là bước tiến rất lớn trong tư duy chẩn đoán và điều trị ung thư", PGS.TS.BS Đào Xuân Cơ nói.

Hiện phương pháp này đã được ứng dụng hiệu quả trong điều trị ung thư tuyến giáp, ung thư tuyến tiền liệt và các khối u thần kinh nội tiết.

Các chuyên gia kỳ vọng, với việc cập nhật liên tục các tiến bộ khoa học và mở rộng ứng dụng những kỹ thuật điều trị hiện đại ngay tại Việt Nam, ngày càng nhiều bệnh nhân ung thư sẽ được tiếp cận các phương pháp tiên tiến mà không phải ra nước ngoài điều trị, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Cũng trong sáng nay (27/6), Bệnh viện Bạch Mai đã chính thức công bố quyết định thành lập Viện Y học hạt nhân và Ung bướu trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu trước đây, đánh dấu bước phát triển mới trong công tác khám, chẩn đoán và điều trị ung thư tại bệnh viện.

Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên đề nghị Viện Y học hạt nhân và Ung bướu cùng Bệnh viện Bạch Mai tăng cường hơn nữa sự hợp tác liên chuyên khoa chặt chẽ giữa ung thư học, y học hạt nhân, sinh học phân tử, chẩn đoán hình ảnh để tối ưu hóa phác đồ cá thể hóa điều trị, mang lại hiệu quả cao nhất cho người bệnh.

Với tư cách là đơn vị đầu ngành, Viện cần tích cực hỗ trợ, chuyển giao các kỹ thuật điều trị tiên tiến xuống các tuyến y tế cơ sở. Mục tiêu là làm sao để người dân ở mọi vùng miền, từ tuyến đầu đến tuyến cuối, đều có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các phương pháp chữa trị hiện đại và chất lượng nhất.

Chủ động mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa các mối quan hệ hợp tác quốc tế, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới nhằm rút ngắn khoảng cách y khoa giữa Việt Nam và các nước tiên tiến.