Ngày 2/9/1945 là một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử dân tộc, không chỉ bởi sự ra đời của một nhà nước độc lập mà còn bởi những giá trị văn hóa sâu sắc được xác lập từ thời khắc ấy: Phẩm giá dân tộc, ý thức làm chủ, tinh thần tự quyết và khát vọng tự do, hòa bình. 81 năm trôi qua nhưng những giá trị đó vẫn hiện diện trong đời sống. Tuy nhiên, trước một bối cảnh mới, những giá trị ấy cần được tiếp tục nhận diện, bồi đắp và chuyển hóa thành sức mạnh để phát triển đất nước. Vậy đâu là cách để những giá trị được hun đúc từ lịch sử trở thành nguồn lực văn hóa, góp phần tạo nên sức mạnh Việt Nam trong tương lai? Mời quý vị và các bạn cùng nghe cuộc phỏng vấn của phóng viên VOV2 với PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội để có câu trả lời cho vấn đề này.

Phóng viên: Thưa PGS.TS Bùi Hoài Sơn! Ngày 2/9/1945 không chỉ là một dấu mốc chính trị, mà còn là một biểu tượng văn hóa của dân tộc. Chúng ta nên hiểu “giá trị văn hóa” của sự kiện này như thế nào?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, nếu chỉ nhìn ngày 2/9/1945 như thời điểm khai sinh một Nhà nước mới thì chúng ta mới thấy một phần ý nghĩa của sự kiện. Ở tầng sâu hơn, đó là một bước chuyển lớn về văn hóa: Từ thân phận của một dân tộc bị áp đặt sang tư thế của một dân tộc tự quyết định vận mệnh của mình; Từ tâm thế thần dân sang ý thức công dân; Từ khát vọng độc lập được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ thành một giá trị được xác lập công khai trước quốc dân và thế giới.

Giá trị văn hóa lớn nhất của ngày 2/9 vì thế là giá trị của phẩm giá dân tộc và phẩm giá con người. Độc lập không chỉ là chủ quyền lãnh thổ, mà còn là quyền được sống trong tự do, được làm chủ, được nói bằng tiếng nói của mình, được bảo vệ ký ức, bản sắc và lựa chọn con đường phát triển của mình. Trong khoảnh khắc ấy hội tụ nhiều lớp trầm tích văn hóa Việt Nam: Lòng yêu nước, tinh thần cố kết cộng đồng, ý chí tự cường, khát vọng hòa bình, niềm tin vào con người và khả năng vượt lên nghịch cảnh.

Bởi vậy, 2/9 không chỉ là một ngày để nhớ về quá khứ. Đó còn là một “mã văn hóa” nhắc chúng ta về cách một dân tộc đứng dậy, tự xác lập giá trị của mình và cùng nhau kiến tạo tương lai. Khi hiểu như vậy, kỷ niệm Quốc khánh không dừng ở nghi lễ hay cảm xúc tự hào, mà trở thành một dịp để mỗi người tự hỏi: Mình đã làm gì để xứng đáng với quyền làm chủ mà các thế hệ đi trước đã phải đánh đổi bằng biết bao hy sinh?

Phóng viên: Vậy, dân tộc ta đã biến những trang sử hào hùng thành nguồn lực như thế nào để củng cố lòng yêu nước, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân hôm nay?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Lịch sử chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi ký ức được chuyển hóa thành niềm tin, niềm tin được chuyển hóa thành giá trị sống và giá trị sống được chuyển hóa thành hành động. Việt Nam đã làm điều đó qua giáo dục, qua các ngày lễ lớn, bảo tàng, di tích, văn học nghệ thuật, điện ảnh, âm nhạc, qua những câu chuyện gia đình và ký ức cộng đồng. Mỗi con đường, địa danh, tượng đài, nghĩa trang, mỗi câu chuyện của một người mẹ, một người lính, một thanh niên xung phong… đều góp phần tạo nên “hạ tầng ký ức” của quốc gia.

Nhưng điều quan trọng hơn là không để lịch sử chỉ tồn tại trong các biểu tượng trang trọng. Lòng yêu nước hôm nay phải được biểu hiện bằng năng lực làm việc tốt hơn, sáng tạo hơn, sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng; Bằng việc tôn trọng pháp luật, bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ gìn văn hóa, làm chủ tri thức và công nghệ, đóng góp vào chất lượng phát triển của đất nước. Khi một người trẻ học tập nghiêm túc, một doanh nghiệp tạo ra sản phẩm Việt Nam có sức cạnh tranh, một nghệ sĩ làm nên tác phẩm có giá trị, một cán bộ phục vụ nhân dân tận tụy, một công dân ứng xử tử tế trên không gian mạng... - đó đều có thể là những hình thức cụ thể của lòng yêu nước trong thời bình.

Vì vậy, cách tốt nhất để giữ gìn những trang sử hào hùng không phải là đặt lịch sử trong tủ kính, mà là làm cho lịch sử tiếp tục “sống” trong các lựa chọn của hiện tại. Tự hào chỉ có ý nghĩa bền vững khi đi cùng trách nhiệm; biết ơn chỉ thực sự trọn vẹn khi trở thành động lực để mỗi thế hệ làm cho đất nước tốt đẹp hơn.

Phóng viên: Trong bối cảnh mạng xã hội và văn hóa số, lịch sử đang được tiếp cận bằng những cách rất khác nhau. Theo ông đây là cơ hội hay thách thức trong việc truyền tải giá trị của những sự kiện lịch sử của dân tộc?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng đây đồng thời là một cơ hội rất lớn và một thách thức rất lớn. Cơ hội nằm ở chỗ công nghệ đang dân chủ hóa việc tiếp cận lịch sử. Một câu chuyện trước đây chỉ nằm trong sách chuyên khảo hay bảo tàng giờ có thể đến với hàng triệu người qua một video vài phút, một podcast, một bộ phim, một ca khúc hay một sản phẩm tương tác. Người trẻ không còn chỉ “học” lịch sử mà có thể khám phá, đối thoại, tái hiện và sáng tạo từ lịch sử. Nếu làm tốt, văn hóa số có thể khiến lịch sử gần gũi hơn, giàu cảm xúc hơn và có khả năng lan tỏa mạnh hơn rất nhiều.

Thách thức là logic của nền tảng số thường ưu tiên tốc độ, sự gây chú ý và cảm xúc tức thời. Lịch sử vốn phức tạp có thể bị rút gọn thành vài mẩu thông tin; Những chi tiết chưa được kiểm chứng có thể lan nhanh hơn sự thật; Sự hài hước, meme hay cách kể giật gân nếu thiếu giới hạn có thể làm mờ tính thiêng liêng và chiều sâu của ký ức dân tộc. Thuật toán cũng có thể tạo ra những “mảnh lịch sử” rời rạc, khiến người xem biết nhiều chi tiết nhưng thiếu một nền tảng nhận thức đầy đủ.

Vì thế, vấn đề không phải là có nên đưa lịch sử lên TikTok, YouTube, podcast hay không, mà là đưa lên bằng cách nào. Theo tôi, cần bảo đảm ba yêu cầu: Đúng về tri thức, sâu về giá trị và hấp dẫn về hình thức. Muốn vậy phải có sự gặp nhau giữa nhà sử học, nhà giáo dục, nghệ sĩ, nhà sáng tạo nội dung và nền tảng công nghệ. Chúng ta cần một hệ sinh thái nội dung số về lịch sử đủ hấp dẫn để người trẻ muốn xem, nhưng cũng đủ tin cậy để họ có thể tin, đủ chiều sâu để sau khi xem họ muốn tìm hiểu thêm. Công nghệ chỉ là phương tiện; điều quyết định vẫn là bản lĩnh văn hóa và trách nhiệm với sự thật lịch sử.

Phóng viên: Chúng ta nói nhiều đến việc “khơi dậy sức mạnh văn hóa”. Vậy theo ông, sức mạnh ấy được biểu hiện cụ thể như thế nào từ những giá trị được hun đúc qua lịch sử dân tộc?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Sức mạnh văn hóa không phải một khái niệm trừu tượng. Nó được biểu hiện trước hết ở khả năng một xã hội tạo ra sự đồng thuận, niềm tin và ý chí hành động chung. Lịch sử Việt Nam cho thấy trong những thời điểm khó khăn nhất, những giá trị như yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, tự lực, linh hoạt và khả năng thích ứng đã giúp dân tộc vượt qua những thử thách tưởng như không thể vượt qua. Đó chính là “vốn văn hóa” được tích lũy qua lịch sử.

Trong giai đoạn phát triển mới, nguồn vốn ấy cần được chuyển thành năng lực phát triển. Tinh thần tự cường phải trở thành khát vọng làm chủ khoa học, công nghệ và những chuỗi giá trị quan trọng; truyền thống hiếu học phải trở thành năng lực học tập suốt đời và đổi mới sáng tạo; tinh thần cộng đồng phải trở thành niềm tin xã hội và văn hóa hợp tác; lòng nhân ái phải thể hiện trong cách chúng ta xây dựng các chính sách không để ai bị bỏ lại phía sau; bản sắc văn hóa phải trở thành nguồn lực cho sáng tạo, công nghiệp văn hóa, du lịch và sức mạnh mềm quốc gia.

Tôi đặc biệt cho rằng sức mạnh văn hóa còn thể hiện ở “sức đề kháng” của xã hội: trước thông tin sai lệch, trước những chuẩn mực lệch lạc, trước tâm lý tự ti hay sùng ngoại, trước lối sống thực dụng cực đoan. Một dân tộc có bản lĩnh văn hóa là một dân tộc biết tiếp nhận cái mới mà không đánh mất mình, biết hội nhập mà vẫn giữ được hệ giá trị cốt lõi, biết tự hào nhưng không khép kín, biết học hỏi nhưng không sao chép. Khi những giá trị lịch sử được chuyển hóa thành phẩm chất của con người hôm nay, văn hóa sẽ không chỉ “đứng bên cạnh” kinh tế và chính trị, mà thực sự trở thành năng lượng bên trong của phát triển.

Phóng viên: Ngày 2/9/1945 đã làm nên một trang sử vàng của dân tộc, nhưng 2/9 của hôm nay đặt ra cho chúng ta một câu hỏi khác: Chúng ta sẽ làm gì để những giá trị được tạo nên từ lịch sử tiếp tục trở thành sức mạnh văn hóa Việt Nam trong tương lai, thưa ông?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải biến việc gìn giữ ký ức thành năng lực kiến tạo tương lai. Mỗi thế hệ không chỉ có trách nhiệm nhớ 2/9, mà còn phải viết tiếp ý nghĩa của 2/9 trong hoàn cảnh của mình. Nếu thế hệ 1945 đặt ra bài toán giành quyền độc lập, thì hôm nay chúng ta phải làm sâu sắc hơn nội hàm của độc lập bằng năng lực tự chủ về kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, dữ liệu, tri thức và năng lực sáng tạo. Một quốc gia chỉ thực sự mạnh khi không chỉ có chủ quyền lãnh thổ, mà còn có khả năng tự tạo ra giá trị, tự định hình hình ảnh của mình và tự tin tham gia vào dòng chảy văn minh nhân loại.

Để làm được điều đó, trước hết cần đổi mới cách giáo dục lịch sử và văn hóa theo hướng khơi gợi trải nghiệm, cảm xúc và tư duy phản biện, chứ không chỉ yêu cầu ghi nhớ. Cùng với đó là số hóa di sản, xây dựng kho dữ liệu lịch sử tin cậy, đầu tư cho phim ảnh, trò chơi, âm nhạc, xuất bản, bảo tàng số và các sản phẩm công nghiệp văn hóa có khả năng kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ của thời đại. Nhà nước cần kiến tạo môi trường; giới nghiên cứu bảo đảm chiều sâu và độ tin cậy; nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo tạo ra sức hấp dẫn; còn mỗi công dân là một chủ thể lan tỏa giá trị.

Nhưng cuối cùng, tương lai của các giá trị 2/9 không nằm ở việc chúng ta tổ chức lễ kỷ niệm lớn đến đâu, mà ở việc những giá trị ấy có hiện diện trong đời sống hằng ngày hay không: Trong sự liêm chính của bộ máy, chất lượng phục vụ nhân dân, trách nhiệm công dân, tinh thần sáng tạo, khát vọng cống hiến và niềm tin vào tương lai đất nước. Giữ được tinh thần ấy, 2/9 sẽ không chỉ thuộc về lịch sử. Nó sẽ tiếp tục là nguồn năng lượng tinh thần để Việt Nam bước đi tự tin, nhân văn và bản lĩnh trong những thập niên tới.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Bùi Hoài Sơn đã dành thời gian trả lời phỏng vấn của VOV2!