Năm 1965, Hà Nội bắt đầu triển khai sơ tán nhằm bảo đảm an toàn cho nhân dân và duy trì hoạt động của thành phố trong chiến tranh. Trường học, cơ quan, cơ sở sản xuất và một bộ phận dân cư lần lượt được đưa về các địa phương ngoại thành.

Tọa đàm “Lớp học thời chiến - Ký ức từ những vùng sơ tán” do Bảo tàng Hà Nội tổ chức gợi lại một thời gian khó, nơi tinh thần hiếu học, tình thầy trò và khát vọng tri thức được gìn giữ giữa bom đạn.

Theo ông Đặng văn Biểu - Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội, từ những ký ức về lớp học thời chiến, câu chuyện lịch sử không chỉ dừng lại ở việc nhìn về quá khứ, mà còn gợi nhắc thế hệ hôm nay về lòng biết ơn, về những giá trị cần được gìn giữ và tiếp nối.

“Điều Bảo tàng Hà Nội mong muốn gửi gắm qua tọa đàm là sự kết nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Từ giữa năm 1972, các huyện Chương Mỹ, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Thường Tín, Quốc Oai, Thạch Thất, Hoài Đức, Đan Phượng... đã đón khoảng 50 vạn người cùng 1.200 cơ quan, trường học, nhà máy của Trung ương và thành phố. Tại nơi sơ tán, việc học tập và sản xuất vẫn được duy trì. Những đứa trẻ đến trường với hành trang đặc biệt của thời chiến: sách vở, mũ rơm và túi cứu thương. Những lớp học đặc biệt được tổ chức tại đình, chùa, nhà dân, nhà kho hoặc những địa điểm tạm thời... cho thấy những khó khăn mà thầy trò phải đối mặt nhưng vẫn quyết tâm dạy và học. Vì đó cũng là một nhiệm vụ chính trị quan trọng”.

Trong những năm chiến tranh, giai đoạn 1965-1968, Nhà giáo ưu tú, PGS.TS Nguyễn Thị Huệ khi đó vừa nhập học tại Trường Lý luận nghiệp vụ Văn hóa (nay là trường Đại học Văn hóa) được 3 ngày đã phải rời trường đi sơ tán tại Yên Dũng, Hà Bắc (nay thuộc Bắc Ninh). Với bà, đó là những ngày tháng không thể nào quên.

“Việc chuẩn bị diễn ra vô cùng đơn giản và gọn nhẹ, hành trang gói gọn trong vài bộ quần áo cùng những vật dụng cơ bản nhất. Để giảm thiểu rủi ro, mọi người chia thành từng nhóm nhỏ lẻ, chủ động di chuyển bằng đủ mọi phương tiện, từ đi bộ cho đến xe đạp. Đến nơi sơ tán khi trời đã nhá nhem tối, ấn tượng đầu tiên đến bây giờ tôi vẫn nhớ chính là sự nồng hậu của bà con địa phương. Lễ đón tiếp học sinh diễn ra vô cùng ấm áp, xua tan đi cái lạnh và sự mệt mỏi của chặng đường dài, mở ra một chương mới đầy tình người nơi đất khách”.

Năm 1972, giữa những năm tháng chiến tranh phá hoại ác liệt ở miền Bắc, tiếng gọi của Tổ quốc đã thôi thúc biết bao thế hệ thanh niên lên đường. Với nhiệt huyết tuổi trẻ và lòng yêu nghề sâu sắc, thầy giáo trẻ Bùi Dương Hòa khi ấy vừa tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã xung phong lên đường đi giảng dạy tại Hà Bắc. Ở vùng đất mới, lớp học của thầy Hòa không phải là những mái trường ngói đỏ mà là những căn hầm đào sâu vào lòng đồi, giữa ngút ngàn rừng dẻ.

“Ngày ấy, để đảm bảo an toàn trước bom đạn, chúng tôi phải đào lớp học chìm sâu vào lòng đất, xung quanh được bao bọc bởi những cánh rừng dẻ ngút ngàn. Các lớp học không nằm sát nhau mà được đặt cách một khoảng an toàn, kết nối với nhau bằng hệ thống đường giao thông hào dọc ngang. Mái hầm dựng theo hình chữ A vững chắc bằng những cây nứa rừng. Mỗi lớp như vậy là nơi học tập của khoảng 35 đến 40 học sinh. Cuộc sống của các thầy cô giáo dẫu thiếu thốn nhưng tràn đầy tình đồng nghiệp. Căn phòng của người giáo viên thời chiến đơn sơ lắm, chỉ vỏn vẹn một chiếc giường nằm, một bộ bàn ghế gỗ nhỏ để soạn giáo án và một chiếc hòm gỗ dùng để đựng hành lý, đồ đạc cá nhân. Thiếu thốn là vậy, nhưng lửa nghề và tình yêu thương học trò chưa bao giờ vơi bớt".

Tọa đàm “Lớp học thời chiến - Ký ức từ những vùng sơ tán” không chỉ là nơi gặp lại của những mái đầu đã bạc mà còn là nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại. Những kỷ vật đơn sơ như: chiếc chăn đơn đã phai màu, cuốn sổ ghi chép ngả vàng hay chiếc đèn dầu tự chế được trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội đã kể lại một câu chuyện kỳ diệu về sức sống của trí tuệ Việt Nam, về tình thầy trò ngời sáng giữa đạn bom... Tất cả sẽ mãi là một nốt trầm xao xuyến, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình và cái giá của từng trang sách mở ra mỗi ngày.

Một số hình ảnh tại sự kiện: