Những năm gần đây, cùng với việc triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia, diện mạo nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến rõ nét. Bên cạnh nguồn lực đầu tư của Nhà nước, sự thay đổi trong tư duy sản xuất, tinh thần chủ động học hỏi, mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác cùng vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng đã trở thành động lực quan trọng, giúp người dân phát triển kinh tế, từng bước vươn lên thoát nghèo và giảm nghèo bền vững.
Xã Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng là địa phương miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Với lợi thế về khí hậu và thổ nhưỡng, địa phương đã xác định phát triển nông nghiệp là hướng đi trọng tâm để nâng cao đời sống cho người dân. Những năm qua, cùng với việc tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật, chính quyền địa phương đã khuyến khích người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất. Nhờ đó, năng suất cây trồng được cải thiện đáng kể, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân.
Là một trong những người tiên phong chuyển đổi sản xuất, hơn 20 năm trước, ông Đinh Văn Rồng (xóm Minh Thanh) đã mạnh dạn chuyển hơn 1 ha đất trồng lúa và rau màu sang trồng bưởi với kỳ vọng cải thiện kinh tế gia đình. Tuy nhiên, do cây bưởi chỉ cho thu hoạch một vụ mỗi năm, phụ thuộc nhiều vào thời tiết và thị trường nên hiệu quả chưa như mong muốn. Không chấp nhận sản xuất kém hiệu quả, ông tiếp tục tìm tòi, học hỏi kỹ thuật mới, ghép cam Canh trên hơn 300 gốc ổi và trồng xen thanh long, nho cùng nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao. Nhờ mạnh dạn đổi mới và áp dụng khoa học kỹ thuật, mô hình của gia đình ông hiện mang lại thu nhập gần 200 triệu đồng mỗi năm.
Không có nhiều diện tích để phát triển cây ăn quả như ông Rồng, bà Đinh Thị Mới (xóm Đồng Tâm) lại lựa chọn hướng đi phù hợp với điều kiện của gia đình. Trên gần 4 sào đất ven sông Nguyên Bình được phù sa bồi đắp màu mỡ, bà bố trí luân canh lúa và các loại rau màu, vừa khai thác hiệu quả quỹ đất, vừa tạo nguồn thu nhập ổn định quanh năm.
Theo bà Hoàng Thị Hòa, Chủ tịch UBND xã Nguyên Bình, hiện khoảng 85% diện tích đất nông nghiệp của địa phương đã được khai thác hiệu quả. Bên cạnh các cây trồng truyền thống, địa phương tích cực hỗ trợ người dân chuyển đổi sang nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao như thuốc lá, thanh long, lê và cây dược liệu, góp phần nâng cao thu nhập và từng bước cải thiện đời sống của người dân.
"Chúng tôi tập trung phát triển nông, lâm nghiệp; lồng ghép các nguồn vốn, phát huy lợi thế địa phương để phát triển cây ăn quả, thanh long, lê, cây gia vị, cây dược liệu... Nhiều mô hình cho thu nhập cao gấp ba, bốn lần trồng ngô, lúa", bà Hòa cho biết.
Không chỉ tại Nguyên Bình, nhiều địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số cũng đang từng bước chuyển mình nhờ lựa chọn những mô hình sản xuất phù hợp. Tại xã Trấn Yên, tỉnh Lào Cai, nghề trồng dâu nuôi tằm đã và đang trở thành hướng phát triển kinh tế hiệu quả, giúp hàng nghìn hộ dân có thu nhập ổn định và vươn lên thoát nghèo.
Lấy sinh kế và khả năng tự vươn lên của người dân làm trung tâm, chính quyền xã Trấn Yên tập trung mở rộng vùng nguyên liệu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng các mô hình liên kết sản xuất. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đời sống người dân ngày càng được nâng cao.
Hơn 20 năm trước, gia đình chị Đinh Thị Miền, ở thôn Việt Thành 3, đã chuyển hơn 3 ha đất trồng lúa và hoa màu sang trồng dâu, nuôi tằm. Quyết định táo bạo ấy đã giúp gia đình chị thoát nghèo, có điều kiện chăm lo cho các con học hành đầy đủ. Câu chuyện của gia đình chị Miền cũng là minh chứng cho sự đổi thay của hàng nghìn hộ dân tại Trấn Yên.
Thay vì sản xuất theo tập quán truyền thống, người dân nơi đây đã mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào toàn bộ quy trình sản xuất. Chính quyền địa phương thường xuyên phối hợp với các đơn vị chuyên môn tổ chức tập huấn ngay tại đồng ruộng, hướng dẫn kỹ thuật trồng dâu, sử dụng phân hữu cơ, cắt tỉa cành, nuôi tằm trên khay trượt, phòng chống dịch bệnh và chăm sóc tằm đúng quy trình. Cùng với đó, nhiều chính sách hỗ trợ về giống, kỹ thuật và liên kết tiêu thụ cũng được triển khai, tạo động lực để người dân yên tâm gắn bó với nghề.
Theo bà Đỗ Diệu Thúy, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường UBND xã Trấn Yên, toàn xã hiện có hơn 1.000 hộ trồng dâu nuôi tằm; 6 hợp tác xã và 79 tổ hợp tác với 617 thành viên; 17 cơ sở nuôi tằm con tập trung cùng hơn 1.000 nhà nuôi tằm quy mô lớn. Giá kén tằm duy trì ở mức cao trong nhiều năm qua, giúp người dân có thu nhập cao gấp nhiều lần so với trồng lúa và ngô.
"Giá kén bình quân khoảng 220 - 230 nghìn đồng một cân, hiệu quả kinh tế gấp hơn chục lần so với lúa, ngô. Cây dâu chỉ đầu tư một lần, chu kỳ khai thác từ 10 đến 15 năm. Bình quân một héc-ta dâu tằm cho thu nhập từ 250 đến 300 triệu đồng mỗi năm", bà Thúy chia sẻ.
Không dừng lại ở những kết quả đã đạt được, Trấn Yên đang tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu, đẩy mạnh thâm canh, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Sự đồng hành của chính quyền cùng tinh thần dám nghĩ, dám làm của người dân đang tạo nền tảng vững chắc để nghề trồng dâu nuôi tằm tiếp tục phát triển. Hiện toàn xã còn 35 hộ nghèo và 40 hộ cận nghèo. Thời gian tới, địa phương đặt mục tiêu giảm một nửa số hộ nghèo và cận nghèo. Với hiệu quả kinh tế đã được khẳng định, nghề trồng dâu nuôi tằm được kỳ vọng sẽ tiếp tục tạo sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương.
Từ những mô hình chuyển đổi sản xuất ở xã Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng và xã Trấn Yên, tỉnh Yên Bái có thể thấy, khi người dân thay đổi tư duy, mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ tạo nên sức bật mạnh mẽ cho phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và xây dựng nông thôn ngày càng khởi sắc./.
