Nghiệp là từ đa nghĩa

Theo TS. Phạm Văn Lam - Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, nghiệp có 4 nghĩa:

- Nghĩa thứ nhất là “nghề, nghề nghiệp, để sinh sống” như trong câu sinh nghề tử nghiệp;

- Nghĩa thứ hai là “cơ nghiệp, tài sản” như trong cách nói sạt nghiệp;

- Nghĩa thứ ba là “sự nghiệp” như trong cách nói làm nên nghiệp lớn;

- Nghĩa thứ tư, trong cách sử dụng của đạo Phật, là “hành động, ý định và lời nói đưa đến kết quả trong tương lai”.

"Từ nghiệp trong cách hiểu của Phật giáo được dịch từ từ karma hay kamma trong tiếng Pali-Sanskrit" - TS. Phạm Văn Lam cho hay.

Nghiệp là một khái niệm rất quan trọng trong đạo Phật, được sử dụng để chỉ quy luật chung nhất về quan hệ nhân quả. Trong đạo Phật, mỗi hành động, lời nói và ý nghĩ (nghiệp), trong những điều kiện nhất định, sẽ tạo thành một quả. Một hành động, lời nói cố ý, dù tốt hay xấu, đều gây ra nghiệp. Vì sự cố ý đó mà hành động này đã để lại một dấu vết nơi tâm thức của chúng sinh và đưa đến nghiệp, tạo nghiệp, luẩn quẩn mãi trong vòng xoáy luân hồi. Chúng sinh khi đã tạo nghiệp, dù là thân nghiệp (hành động) hay khẩu nghiệp/ ngữ nghiệp (lời nói), hay ý nghiệp thì tất có quả báo, nghiệp báo trong tương lai.

Nghiệp thì có lành, có dữ, được gọi là nghiệp thiện, nghiệp ác. Việc làm, lời nói hay ý nghĩ thiện hay ác chính là nhân, dẫn tới hậu quả vui hay khổ gọi là nghiệp quả. Chính con người tạo nghiệp thiện hay nghiệp ác, và cũng chính con người phải chịu hậu quả của nghiệp. Vì vậy, nhà Phật khuyên con người cần tránh gây nghiệp ác là sát sinh, trộm cắp, tà dâm (thân nghiệp ác); nói dối, nói ác, nói chia rẽ, nói vô nghĩa (khẩu nghiệp ác); tham, sân, si (ý nghiệp ác); và cần tạo nghiệp thiện là: không sát sinh mà còn phóng sinh, không trộm cắp mà còn bố thí, không tà dâm mà còn giữ phẩm hạnh trong sạch (thân nghiệp thiện); không nói dối mà còn nói thật, không nói lời ác mà còn nói lời dịu hiền, không nói lời chia rẽ mà còn nói lời gắn kết, không nói lời vô nghĩa mà còn nói lời có ích, có ý nghĩa (ngữ nghiệp thiện); không tham, không sân, không si (ý nghiệp thiện).

Nghĩa của một số từ ghép với nghiệp

- An cư lạc nghiệp là một trong những cụm từ quen thuộc nhất liên quan đến “nghiệp”. Đây là cách nói thể hiện triết lí “cuộc sống ổn định, nơi ở vững chắc (an cư) là nền tảng để phát triển sự nghiệp và hạnh phúc (lạc nghiệp)”.

"Câu này răn dạy rằng khi có nơi ăn chốn ở yên ổn, không phải lo âu thì con người mới có thể tập trung tâm trí, sức lực để làm việc, cống hiến và thành công. Đây chính là quan niệm sống đề cao việc ổn định chỗ ở trước khi tập trung vào sự nghiệp" - TS. Phạm Văn Lam giải thích thêm.

- Khởi nghiệp hay khai nghiệp, theo TS. Phạm Văn Lam, đều được hiểu là quá trình tự mình bắt đầu một công việc kinh doanh, thành lập doanh nghiệp hoặc gây dựng dự án mới nhằm hiện thực hóa các ý tưởng, mục tiêu, và mang lại lợi nhuận, lợi ích cho bản thân và xã hội. Ở một nghĩa chuyên biệt hơn thì khởi nghiệp chính là quá trình biến ý tưởng thành hiện thực, đòi hỏi sự sáng tạo, mạo hiểm và khả năng quản trị; khởi nghiệp thường đi liền với giải pháp công nghệ mới, có tính đột phá, bứt phá.

- Bá nghiệp là “sự nghiệp to lớn, vượt trội, thường dùng để mô tả công lao thành tích của người đứng đầu hoặc kẻ thống trị”.

- Hưng nghiệp là “xây dựng, phát triển hoặc làm cho nghề nghiệp, sự nghiệp trở nên thịnh vượng, phát đạt”. Hưng nghiệp cũng có một nghĩa nữa là “gây dựng sự nghiệp” nhưng theo TS. Phạm Văn Lam, hiện nay từ này ít dùng hơn, như trong cách nói mảnh đất hưng nghiệp của một ai đó.

- Ác nghiệp, khẩu nghiệpnghiệp duyên đều gắn với từ nghiệp, vốn có gốc từ tiếng Pali-Sanskrit, gắn với đạo Phật. Trong đó:

+ Ác nghiệp, đối lập với thiện nghiệp, là cái nghiệp dữ, đưa đến quả xấu.

+ Khẩu nghiệp là lời nói xấu, gây ra quả xấu.

+ Nghiệp duyên hay nói đảo lại là duyên nghiệp, là “mối duyên nợ vốn có sẵn, định sẵn từ kiếp trước”.

- Bạc nghiệp chỉ “sự nghiệp nhỏ mọn, mỏng manh, không may mắn”, là “cái nghiệp, cái phận hèn mọn, không có gì lấy làm rực rỡ, to lớn”. Bạc trong bạc nghiệp có nghĩa gốc là “mỏng, nhẹ”./.