Đó là khẳng định của GSTS. Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng vụ giáo dục đại học - Bộ GD-ĐT tới các cơ quan báo chí, ngày 21/9.
Đại diện Bộ GD-ĐT khẳng định, cách nói “bỏ IELTS” hoặc “không còn xét chứng chỉ ngoại ngữ” là không chính xác. Dự thảo không loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ khỏi tuyển sinh và cũng không phủ nhận thành tích học sinh giỏi.
"Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn được sử dụng để quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai; chứng minh yêu cầu ngoại ngữ đầu vào của chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài; hoặc được xem xét công nhận học phần, chuẩn đầu ra theo quy định.
Đồng thời, thí sinh đoạt giải học sinh giỏi quốc gia, quốc tế vẫn được xét tuyển thẳng nếu đáp ứng điều kiện của quy chế. Xét tuyển thẳng cũng không tính vào giới hạn ba phương thức của mỗi ngành từ năm 2027", GSTS. Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng vụ giáo dục đại học - Bộ GD-ĐT khẳng định.
Theo GSTS. Nguyễn Tiến Thảo, nội dung đề xuất thay đổi là không cộng thêm điểm ngoài thang đánh giá chính do từng trường tự quy định đối với chứng chỉ, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung.
Nguyên tắc là một năng lực phải được đánh giá đúng vị trí, ghi nhận một lần và theo cùng quy tắc đối với mọi thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành.
Ông Thảo nhấn mạnh rằng, nếu ngoại ngữ là năng lực đầu vào cần thiết, cơ sở đào tạo phải đưa ngoại ngữ thành một hợp phần chính thức của phương thức xét tuyển. Thí sinh có thể dùng điểm thi hoặc chứng chỉ được quy đổi tương đương.
Ngược lại, nếu ngành chỉ xét toán, vật lý và hóa học, việc cộng thêm điểm vì có chứng chỉ tiếng Anh sẽ đưa một tiêu chí không thuộc yêu cầu đầu vào vào để thay đổi thứ tự thí sinh.
Trường hợp tổ hợp đã có môn tiếng Anh mà thí sinh lại tiếp tục được cộng điểm nhờ chứng chỉ tiếng Anh cũng phát sinh bất hợp lý: cùng năng lực ngoại ngữ được ghi nhận hai lần. Chứng chỉ có chức năng xác nhận năng lực, không mặc nhiên là một khoản điểm thưởng trong mọi ngành học.
Trên 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để hưởng cộng điểm
Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, năm 2026 cho thấy hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm; trong đó trên 35.900 thí sinh sử dụng IELTS.
IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất, với 8.318 thí sinh, nhưng được các trường quy định thành 26 mức điểm cộng khác nhau. Ở nhóm ngành thuộc tốp 5% điểm chuẩn cao, có ngưỡng tham chiếu 26,09/30, hơn 30% người nhập học có điểm cộng; tỷ lệ này ở nhóm ngoài tốp 25% là 9,51%.
Trong ba phương thức không có cấu phần ngoại ngữ riêng gồm xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ và kết hợp hai kết quả, 51,42% thí sinh có điểm cộng có điểm gốc thấp hơn mức trúng tuyển của ngành.
"Các con số này dù không xác định được từng cặp thí sinh bị thay thế nhưng cho thấy điểm cộng có thể trở thành yếu tố quyết định kết quả tại các ngành cạnh tranh cao, tạo sự bất bình đẳng trong tuyển sinh", GSTS. Nguyễn Tiến Thảo nói.
Từ thực tế này, theo đại diện Bộ GD-ĐT, công bằng trong tuyển sinh không phải là chia đều lợi thế, mà là bảo đảm thí sinh cùng dự tuyển vào một ngành được đánh giá bằng cùng tiêu chí. Có hai cách thức đang gây mất công bằng và đã là bất cập thì cần thiết phải xử lý tháo gỡ điểm nghẽn ngay.
Thứ nhất, ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh vẫn được cộng điểm. Chẳng hạn, với ngành chỉ xét toán, vật lý và hóa học, một thí sinh có kết quả ba môn cao hơn vẫn có thể trượt trước thí sinh có điểm chuyên môn thấp hơn nhưng được cộng chứng chỉ (như hình minh họa 1). Quyền sử dụng chứng chỉ của một người không thể làm mất quyền được đánh giá công bằng của người còn lại.
Thứ hai, tổ hợp đã có môn tiếng Anh nhưng chứng chỉ tiếng Anh tiếp tục được dùng để cộng thêm điểm. Khi đó, năng lực ngoại ngữ vừa được phản ánh trong điểm tổ hợp, vừa tạo thêm lợi thế ngoài thang đo.
Một năng lực được tính hai lần sẽ làm sai lệch thứ tự xét tuyển, đặc biệt ở các ngành có điểm chuẩn cao, nơi chênh lệch rất nhỏ cũng có thể quyết định trúng tuyển hay không (như minh họa ở hình 2).
Quyền lợi chính đáng của người có chứng chỉ không bị mất. Nếu ngành cần ngoại ngữ, trường phải đưa ngoại ngữ vào tiêu chí chính thức; thí sinh được dùng điểm thi hoặc chứng chỉ quy đổi tương đương. Chứng chỉ vẫn được dùng để chứng minh yêu cầu đầu vào của chương trình bằng ngoại ngữ. Điều được đề xuất chấm dứt chỉ là điểm cộng ngoài thang đánh giá, nhất là khi ngoại ngữ không thuộc yêu cầu đầu vào hoặc đã được ghi nhận trong tổ hợp.
Thực tế theo thống kê của Bộ GD-ĐT, nhiều ngành điểm chuẩn khoảng 28 nhưng cho cộng tới 1,5 điểm, khiến hàng nghìn thí sinh đạt 26,5-28 điểm vẫn không trúng tuyển chỉ vì không có điều kiện thi chứng chỉ có chi phí cao.
"Đây là vấn đề cấp bách liên quan trực tiếp đến công bằng và cần được điều chỉnh ngay. Tự chủ tuyển sinh phải đi cùng trách nhiệm giải trình và không thể hợp thức hóa một tiêu chí làm sai lệch cạnh tranh giữa các thí sinh", GSTS. Nguyễn Tiến Thảo khẳng định.
Trước băn khoăn của nhiều phụ huynh khi thí sinh đã đầu tư thời gian, chi phí học ngoại ngữ sẽ bị thiệt, giảm động lực học tiếng Anh, GSTS Nguyễn Tiến Thảo cho rằng, không nên đồng nhất “không được cộng điểm” với “học ngoại ngữ không còn giá trị”.
Nếu chứng chỉ chủ yếu được theo đuổi để lấy lợi thế điểm số, việc học dễ chuyển từ phát triển năng lực giao tiếp, học tập và làm việc sang luyện thi để đạt một mốc điểm. Chính sách cần đưa động lực học ngoại ngữ trở lại đúng mục tiêu: học thật, sử dụng được và tạo lợi thế lâu dài cho người học.
Vì vậy, theo ông Thảo, chỉnh sửa dự thảo Thông tư tuyển sinh lần này dựa trên nguyên tắc: năng lực nào cần cho ngành học thì phải được đánh giá trực tiếp, minh bạch và bình đẳng; năng lực nào không thuộc yêu cầu đầu vào thì không nên trở thành điểm cộng làm thay đổi thứ tự thí sinh.
"Dự thảo sửa đổi quy định tuyển sinh đại học không bỏ chứng chỉ ngoại ngữ, mà sử dụng chứng chỉ đúng bản chất. Không hạ thấp thành tích học sinh giỏi, mà ghi nhận thành tích đúng cơ chế. Không thu hẹp cơ hội, mà đưa mọi thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành về một thước đo công bằng, minh bạch và có thể kiểm chứng. Việc loại bỏ điểm cộng không phù hợp là việc cấp thiết để bảo vệ nguyên tắc đó", đại diện Bộ GD-ĐT nói.
