Vì sao gọi tháng Chạp là tháng củ mật?

Theo Âm lịch, chúng ta gọi tháng 12 là tháng Chạp. Ngoài ra, tháng này còn có cách gọi khác trong dân gian là Tháng củ mật.

Theo TS. Phạm Văn Lam từ chạp trong cách nói Một, Chạp, Giêng, Hai là cách nói theo lịch âm. Theo đó, Một là tháng Mười một, Chạp là tháng Mười hai, Giêng là tháng Một đầu năm. Chạp ở đây là cách đọc chệch của lạp trong chữ lạp nguyệt của tiếng Hán, nghĩa là lễ (cúng) tế vào tháng cuối năm, cuối năm.

Trong tiếng Việt hiện nay, ngoài cách nói chỉ các tháng là Một, Chạp, Giêng, Hai thì chạp, lạp còn có trong các cách nói như giỗ chạp, lễ lạp, chạp tổ (giỗ tổ)… Chạp, lạp trong những cách nói này đều mang nghĩa khái quát là “lễ tế, cúng giỗ”.

Dân gian gọi tháng Chạp là tháng củ mật vì đây là tháng cuối năm, mọi người tất bật chuẩn bị đón Tết nên dễ lơ là, mất cảnh giác, khiến trộm cắp hay hỏa hoạn có thể xảy ra. Và trong thực tế, tháng này cũng là tháng mà người ta hay mất trộm.

Củ trong củ mật không phải là một loại củ mà thường được lí giải là “xem xét, kiểm soát”; “mật” có nghĩa là “kín, khít’. Như vậy, củ mật có nghĩa là “kiểm soát một cách cẩn thận, kín kẽ, không để thất thoát”. Trong tiếng Việt còn có từ mà nay ít sử dụng là củ soát/ củ sát với nghĩa “kiểm tra, xem xét cẩn thận xem có lỗi lầm, sai sót gì hay không”.

Tháng củ mật là lời nhắc nhở người xưa phải củng cố, kiểm soát (củ) mọi thứ kín đáo, cẩn thận (mật) để bảo vệ tài sản và sức khỏe, tránh xui xẻo. Đây là một lời nhắc nhở sâu sắc của ông cha ta về việc giữ gìn tài sản, nhà cửa, sức khỏe và mọi công việc trong thời điểm chuyển giao năm cũ - năm mới, để năm mới được an lành, trọn vẹn. Ngoài ra, nó còn là một lời nhắc nhở về sự chừng mực, phép tắc, cẩn trọng trong mọi sinh hoạt để kết thúc năm cũ một cách tốt đẹp.

Những thành ngữ gắn với Tết đến, xuân về

Trong giao tiếp thường ngày, người Việt vẫn thường nói với nhau “làm thế này thì có mà đến Tết mới xong”.

Theo lý giải của TS. Phạm Văn Lam, những cách nói như vậy thường là cách nói có chút ý mỉa mai, hoài nghi, phủ định hay hài hước, chỉ “sự rất lâu, gần như không thể xảy ra, hoặc cực kì hiếm hoi”.

Tết trong cách nói này là cái tết của cuối năm. Cuối năm là một quãng thời gian tồn tại thật trong tương lai, tất sẽ đến, nhưng mà rất lâu, rất xa, buộc người ta phải kiên nhẫn chờ đợi, mong ngóng,… đến độ có thể “mệt mỏi, khắc khoải”. Trong quãng thời gian chờ đợi ấy, có thể có nhiều điều xảy ra, cản trở kế hoạch, mong muốn của con người.

Một thành ngữ nữa mà dân gian ta hay dùng mỗi khi Tết đến xuân về là ăn cơm mới, nói chuyện cũ.

Theo TS. Phạm Văn Lam, câu này nghĩa đen chỉ “ăn cơm thì ăn cơm mới (gạo mới) nhưng mà lại nói lại chuyện cũ”. Đây là một câu tục ngữ mà dân gian rất hay dùng mỗi khi năm hết Tết đến, dịp sum họp gia đình.

Có hai cách sử dụng phổ biến câu này. Thứ nhất là “khuyên nhủ người ta nên sống hướng về tương lai, đừng mãi bận tâm chuyện xưa; chuyện gì qua rồi thì cho qua”.

Thứ hai là “lời nhắc nhở ý nhị về việc nhìn lại quá khứ để rút kinh nghiệm, để khắc phục lỗi lầm, để thay đổi cho tốt hơn, để ôn cố tri tân. Nghĩa thứ hai này được sử dụng phổ biến hơn.

Ăn cơm mới, nói chuyện cũ là câu tục ngữ thể hiện đậm chất văn hoá nông nghiệp, nông thôn, nông dân của dân gian. Đó là chuyện người Việt có tục cúng cơm mới (bữa cơm gạo mới của mỗi mùa thu hoạch). Cơm mới, chuyện cũ trong câu tục ngữ này đã được hiểu theo nghĩa ẩn dụ. Cơm mới là sự kiện mới, chuyện mới, hiện thực mới, mốc thời gian mới, thường là vui, tốt, tích cực (nhà mới, năm mới…). Chuyện cũ, sự kiện cũ, chuyện cũ, hiện thực cũ, mốc thời gian cũ, thường là vất vả, gian nan cơ cực, có thể không may mắn…

Ăn cơm mới, nói chuyện cũ chính là sự nhìn nhận, ôn lại cái cũ ấy giúp người ta hiểu thêm được cái mới, thấy rõ giá trị của cái mới; giúp người ta thêm yêu, thêm trân trọng thành quả vừa có được và yên tâm vững bước trong cuộc sống.

Ngoài những câu thành ngữ này, dịp năm hết, Tết đến, chúng ta thường có câu tống cựu nghênh tân. Đây là một thành ngữ Hán Việt có nghĩa đen là “tiễn cái cũ đi, đón cái mới đến”, thường được dùng vào dịp Tết Nguyên đán để chỉ tục lệ tiễn biệt năm cũ, xua đi những điều xui xẻo, phiền muộn để chào đón năm mới, mang đến may mắn, hi vọng, tài lộc và những khởi đầu tốt đẹp hơn trong cuộc sống.

Tống cựu còn có nghĩa bóng là “gạt bỏ những gì không tốt đẹp, những khó khăn, trắc trở của năm cũ đã qua”.

Nghênh tân hay nghinh tân là “chào đón cái mới, đón nhận những điều tươi mới, may mắn, niềm vui và những cơ hội tốt đẹp cho năm sắp tới”.

Tống cựu nghênh tân là thực hành văn hoá gồm “một chuỗi các hành vi, hoạt động như dọn dẹp nhà cửa, lau chùi bàn thờ, sắm sửa đồ mới và thực hành các nghi lễ tâm linh như cúng Giao thừa, đốt pháo,… thể hiện mong muốn về sự đổi mới, phát triển.

"Câu nói này thể hiện triết lí sâu sắc của người Việt về “sự chuyển giao, đổi mới và tinh thần lạc quan”; chuyển tải thông điệp khuyến khích con người gác lại quá khứ để hướng tới tương lai, đón nhận những điều mới mẻ, tốt đẹp”. - TS. Phạm Văn Lam nói./.