Mời các bạn bấm nút nghe nội dung:
Trong tài liệu “Tổng quan về phương ngữ tiếng Việt”, các nhà nghiên cứu Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định “Tiếng Việt là một ngôn ngữ tộc người, một ngôn ngữ quốc gia có tính thống nhất cao.
Tuy nhiên, sự gián đoạn về thời gian và không gian trong lịch sử phát triển của tiếng Việt đã làm xuất hiện nhiều điểm khác biệt trong tiếng nói của các vùng miền, từ đó làm hình thành các phương ngữ và thổ ngữ”. Chính điều này góp phần tạo nên sự đa dạng, biến hóa thú vị của ngôn ngữ.
Rối não với "trái/quả", "củ mỳ/củ sắn"...
Lê Minh Tiến, sinh viên năm cuối Học viện Ngoại Giao từ một tỉnh phía Nam ra Hà Nội nhập học. Trong thời gian đầu, ngoài những lạ lẫm về món ăn, vùng đất, con người, Minh Tiến phải đối diện với giai đoạn phải “dịch từ tiếng Việt sang tiếng Việt” nói theo cách hóm hỉnh của cậu sinh viên này.
Cậu tân sinh viên ngay năm đầu ra Thủ đô nhập học, đón mùa đông đầu tiên đã rất vui mừng khi thấy xe đồ ăn với nhiều món quen thuộc ngay trước cổng trường. Nhưng khi hỏi giá tiền món “củ mì” yêu thích, Minh Tiến bắt gặp vẻ ngỡ ngàng, ngơ ngác của người bán hàng. Sau một hồi trao đổi, cuối cùng cậu tân sinh viên nhận được món ăn đúng ý. Thì ra ở Hà Nội, người ta gọi “củ mì” là “củ sắn”.
Liên tục va vấp với các tên gọi mới cho những món ăn, thứ đồ quen thuộc, đến nay, Minh Tiến đã có thể dùng “song ngữ” tiếng Việt và biết hầu hết tên gọi khác nhau giữa miền Nam và miền Bắc.
Lê Trần Hà Phương, sinh viên ngành Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn thì do đặc thù ngành học có những chuyến trải nghiệm, thực tập ở các vùng miền nên khá thường xuyên gặp những tình huống nghe tiếng Việt mà không hiểu.
Ví dụ như Hà Phương trong lần đầu được bạn mời ăn quả na đã rất ngạc nhiên khi nghe người bán hàng khẳng định đây là trái mãng cầu. Hỏi “cân” lại được trả lời là “ký”…
Từ vựng phương ngữ nhìn từ góc độ chuyên gia ngôn ngữ
Về phương diện từ vựng, theo tài liệu của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, phương ngữ Bắc thể hiện một hệ thống đơn vị khá phong phú và đa tầng, phản ánh rõ nét lịch sử phát triển của tiếng Việt và đặc thù văn hoá – xã hội của cư dân Bắc Bộ.
Trước hết, đây là vùng bảo lưu nhiều lớp từ cổ của tiếng Việt, ví dụ như “chõ” (nồi nấu xôi), “vại” (dụng cụ đựng nước hoặc để muối dưa),…vốn có nguồn gốc sâu xa trong tiếng Việt trung đại và không còn phổ biến trong ngôn ngữ toàn dân hiện nay.
Bên cạnh đó, do truyền thống sản xuất nông nghiệp lúa nước lâu đời, phương ngữ Bắc sở hữu một hệ thống từ chỉ công cụ, sản vật và hoạt động nông nghiệp rất đa dạng, thể hiện tri thức dân gian đặc trưng của vùng đồng bằng và trung du.
Trong quá trình giao lưu lịch sử với văn hoá Hán, phương ngữ Bắc cũng tiếp nhận và sử dụng sớm nhiều đơn vị từ Hán - Việt, khiến lớp từ này trở nên phổ biến và ổn định trong giao tiếp hằng ngày.
Việc cùng một sự vật, hiện tượng biến thể thành các tên gọi khác nhau như “quả” và “trái”, “roi” và “mận” theo PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy, giảng viên Khoa Ngôn ngữ học và Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội xuất phát từ 2 cơ chế.
Thứ nhất là biến đổi tên gọi từ định danh dựa trên đặc điểm hình thái hoặc cảm quan địa phương. Miền Bắc gọi là quả roi vì hình dáng thắt lại rồi xòe ra ở phần dưới cùng trông giống như chiếc roi mây nhỏ. Trong khi đó, loại quả tròn, vỏ, đỏ hoặc tím có hạt cứng ở miền Bắc được gọi là quả mận (mận Tam Hoa).
Miền Nam gọi quả roi miền Bắc là trái mận (mận An Phước, mận Chuông). Kết quả là quả mận miền Bắc khi vào miền Nam sẽ được thêm dấu hiệu nhận biết bằng cách gắn địa danh như mận Hà Nội hay mận Bắc để phân biệt.
Thứ hai nằm ở cơ chế đồng nghĩa về phương ngữ và đa nghĩa địa phương. Có thể cùng một biểu đạt hình ảnh nhưng hai vùng miền gắn cho hai đối tượng thực tế khác nhau.
“Điều này dẫn đến hiện tượng một từ chỉ nhiều sự vật khác nhau tùy địa phương hoặc nhiều từ cùng được dùng để chỉ một sự vật. Chúng ta có thể thấy một số trường hợp thuộc về biến thể từ vựng phương ngữ. Ví dụ như là 'chè' ở miền Bắc, miền Trung và 'trà' được dùng ở cả miền Bắc và miền Nam”, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy phân tích.
Cụ thể, ở miền Bắc, “chè” dùng để chỉ cây chè tươi, chè khô lẫn món ăn chè ngọt. Ví dụ như là chè đỗ đen. Còn miền Nam, phân biệt rõ trà là đồ uống từ lá trà và chè là món ăn ngọt. Ở Hà Tĩnh thì có chè gây, chè om dùng để chỉ thức nước uống nấu từ lá chè xanh tươi.
Miền Bắc có từ “dứa” nhưng miền Nam gọi là “thơm” hoặc “khóm”...
Về quy tắc tạo nên các từ như trái/ quả, roi/mận…do biến đổi ngữ âm lịch sử, còn gọi là chuyển biến âm cổ.
Cặp từ “trái” ở miền Nam và “quả” ở miền Bắc có sự tiếp nối giữa yếu tố thuần Việt cổ là “trái” và yếu tố Hán Việt đã Việt hóa là “quả”.
Đồng thời theo PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy, ở đây cũng có sự tương ứng ngữ âm phương ngữ. Nhiều cặp từ không phải ngẫu nhiên mà tuân theo quy luật biến âm địa phương có hệ thống.
Quy tắc thứ hai tạo nên phương ngữ thuộc về thói quen, có tính định hình về xã hội. Khi cộng đồng dân cư ở một vùng địa lý giao tiếp ổn định qua hàng trăm năm sẽ khiến cách dùng từ vựng trở thành định ước xã hội.
“Người dân ở các địa phương sẽ sử dụng theo phản xạ, thói quen mà không cần tái tạo quy tắc. Vì vậy đối với người bản ngữ, việc gọi trái hay quả, mũ hay nón là lựa chọn mang tính thói quen phương ngữ tự nhiên”, cô Phương Thùy khẳng định.
Phương ngữ mang lại giá trị lớn đối với văn chương nghệ thuật bởi giá trị biểu cảm, giúp các tác giả khắc họa được tính cách, không gian và không khí vùng miền.
“Văn học sử dụng phương ngữ để lập tức đưa người đọc về đúng không gian văn hóa nào đó. Ví dụ Nguyễn Tuân dùng từ ngữ xứ Thanh, Sơn Nam dùng từ ngữ Nam Bộ, còn Hoàng Cầm lại dùng ngữ âm của vùng Kinh Bắc”, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy chia sẻ.
Phương ngữ trong văn chương, nghệ thuật còn cá thể hóa ngôn ngữ cho nhân vật. Ví dụ trong sân khấu, điện ảnh và tiểu thuyết, lời thoại dùng phương ngữ giúp nhân vật thực sự sống với nguồn gốc xuất thân, trình độ và tâm lý mà không cần phải thuyết minh, diễn giải quá nhiều.
Ngoài ra, phương ngữ cũng góp phần tạo ra nhịp điệu, sắc thái tình cảm và sức gợi hình. Ví dụ trong thơ chúng ta có những câu như:
“Mạ ơi, con bước lên đường
Trường Sơn mây phủ, mưa giăng lối về…:
Từ “Mạ” ở đây mang sắc thái trầm buồn, thể hiện tình yêu nhiều hơn so với từ “Mẹ”, một từ mang tính toàn dân./.
