Hà Nội phê duyệt đề án phát triển theo hướng tiệm cận chuẩn quốc tế với hai trường THPT chuyên Chu Văn An và Hà Nội - Amsterdam gây nhiều tranh luận khi đặt ra các chuẩn đầu ra ngoại ngữ, chứng chỉ quốc tế và tỷ lệ du học ở mức cao.
Những tiêu chí "thị trường"
Theo chuyên gia giáo dục độc lập - TS Đỗ Thị Ngọc Quyên, định hướng phát triển các trường THPT chuyên theo hướng tiệm cận quốc tế là cần thiết về mặt chiến lược. Tuy nhiên, đề án của Hà Nội tồn tại nhiều mâu thuẫn nội tại. Dù viện dẫn Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và cách tiếp cận phát triển năng lực người học nhưng mục tiêu và lộ trình không “khớp” với tinh thần đó.
Trường THPT chuyên Chu Văn An đưa ra các mục tiêu định lượng như: năm 2026-2030, ít nhất 150 học sinh trúng tuyển đại học tại Anh, Mỹ, Australia, tối thiểu 80 em nhận học bổng quốc tế. Đến 2031-2035, 90% giáo viên có năng lực dạy song ngữ hoặc theo chuẩn quốc tế, tiếp nhận học sinh các nước hoặc có 1% học sinh trao đổi. Từ 2036 đến 2045, tất cả học sinh có chứng chỉ ngoại ngữ, học thuật, công nghệ thông tin quốc tế
“Việc đặt số lượng cụ thể học sinh trúng tuyển đại học nước ngoài có liên quan gì đến mục tiêu phát triển năng lực người học?”, TS. Đỗ Thị Ngọc Quyên đặt câu hỏi.
Chuyên gia cho rằng, phát triển trường chuyên, khối chuyên ở THPT cần gắn liền với chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia và định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong 30 - 50 năm tới. Việc đưa ra lộ trình chiến lược phát triển riêng cho trường chuyên không thể chỉ dừng ở mục tiêu đạt chuẩn quốc tế.
Việc nhấn mạnh năng lực tiếp nhận học sinh quốc tế cần được xem xét trong bối cảnh trường chuyên công lập. Với giáo dục công lập, mục tiêu cốt lõi phải là phục vụ lợi ích công, gắn với chiến lược phát triển nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nếu không xác định rõ sứ mệnh đó, rất dễ rơi vào tình trạng chạy theo các tiêu chí mang tính hình thức.
Chứng chỉ quốc tế có thể là công cụ tham khảo hoặc dấu mốc trong quá trình học tập của cá nhân. Nhưng với một cơ sở giáo dục công lập, việc biến chúng thành mục tiêu chính thức là điều không phù hợp.
TS. Đỗ Thị Ngọc Quyên cho rằng, khối ngoài công lập có thể chạy theo nhu cầu thị trường và kỳ vọng của phụ huynh. Nhưng trường công lập có sứ mệnh khác. “Những chỉ tiêu như 100-150 học sinh trúng tuyển ĐH quốc tế, ĐH Anh-Mỹ hoặc HS đạt chuẩn đầu ra quốc tế là những khái niệm rất mơ hồ và hài hước”.
Kể cả tiêu chuẩn của CIS, nếu cảm thấy hiện đại và phù hợp, Việt Nam có thể học hỏi để xây dựng bộ tiêu chuẩn riêng gắn với chiến lược phát triển giáo dục và nguồn nhân lực quốc gia, thay vì đơn thuần chạy theo tiêu chuẩn quốc tế trong trường công lập.
Nhiều ý kiến phản biện cho rằng, cách tiếp cận của đề án thiên về đáp ứng xu hướng thị trường hơn là xuất phát từ tư duy chiến lược và chính sách giáo dục dài hạn. Nếu mục tiêu chỉ đáp ứng những tiêu chí mang tính thị trường thì khu vực tư nhân sẽ phù hợp hơn, thay vì đặt lên vai các trường công lập.
Sàng lọc thiếu công bằng
Chuyên gia cũng khuyến cáo về những tác động của chính sách đến công bằng và phúc lợi xã hội. Đề án của Trường THPT Chuyên Hà Nội Amsterdam dù không đặt tiêu chuẩn đầu vào tiếng Anh. Tuy nhiên, chuẩn đầu ra tiếng Anh lại rất cao, tương đương chuẩn đầu ra của tiến sĩ.
Phụ lục đề án cho biết 16% giáo viên hiện đạt B2. Đến 2030 mới phấn đấu 60-70%. Trong khi yêu cầu 100% học sinh tốt nghiệp đạt B2 từ năm học 2026-2027. Theo PGS.TS Phạm Mạnh Hà, giảng viên ĐH Bách khoa Hà Nội, ngay cả đội ngũ giáo viên chưa chắc đáp ứng được chuẩn B2 tiếng Anh, học sinh sau khi tốt nghiệp THPT lại phải đạt chuẩn này là điều vô lý.
Bên cạnh đó, dù không ràng buộc ở khâu tuyển sinh, nhưng để đạt trình độ B2 chỉ sau 3 năm THPT buộc học sinh phải được đầu tư tiếng Anh từ rất sớm. Điều này vô hình trung loại bỏ những học sinh có năng lực, tố chất nhưng gia đình không đủ điều kiện đầu tư ngoại ngữ từ sớm.
Tương tự, Trường THPT chuyên Chu Văn An, dù không yêu cầu đầu vào tiếng Anh quá cao, nhưng ngay từ lớp 10 học sinh đã phải đạt IELTS 6.5, học các môn Toán, Lý, Hóa bằng tiếng Anh. Nếu không phải học sinh bản ngữ hoặc không có điều kiện kinh tế để đầu tư ngoại ngữ từ sớm thì rất khó đáp ứng.
Không một công trình nào đặt ngoại ngữ là điều kiện cần của tài năng. Tố chất nằm ở tư duy, sáng tạo, động cơ nội tại. PGS Phạm Mạnh Hà cho rằng, khi tuyển chọn và phát triển nhân tài, đặc biệt trong lĩnh vực STEM mà lấy ngoại ngữ làm rào cản là vô lý. Vô hình trung, chúng ta đang tập trung nguồn lực công cho “nhóm tinh hoa của tinh hoa”.
Việc tìm kiếm và bồi dưỡng học sinh có tài năng thực sự là điều cần làm. Tuy nhiên theo PGS Phạm Mạnh Hà, cách làm trong hai đề án hiện nay không đạt được điều đó.
Để tuyển chọn vận động viên thể thao, diễn viên xiếc hay nghệ sĩ tài năng, các nhà tuyển trạch phải đi xuống tận địa phương, trường học để sàng lọc từ hàng trăm nghìn người để tìm nhân tài, quy tụ về để đào tạo bồi dưỡng.
Trong khi đó, các trường này lại ngồi một chỗ, đưa ra tiêu chí rồi gọi đó là tuyển chọn nhân tài. Cách làm ấy chắc chắn sẽ bỏ sót rất nhiều tài năng thực sự.
Bởi lẽ, những học sinh có điều kiện kinh tế sẽ dễ đạt các tiêu chí ngoại ngữ hơn. Trong khi có những em cực kỳ giỏi Toán, rất có tố chất, nhưng vì không được đầu tư học tiếng Anh từ nhỏ nên bị loại ngay.
“Ví dụ, bố mẹ làm nghề lao động phổ thông thì lấy đâu ra hàng triệu đồng mỗi tháng để cho con học ngoại ngữ từ lớp 3, lớp 4? Như vậy, việc dùng ngoại ngữ hay các dạng bài luyện thi để sàng lọc sẽ không thể tìm ra nhân tài thực sự”, PGS,TS Phạm Mạnh Hà nói.
Chạy đua "xuất khẩu học sinh giỏi"
Ở góc nhìn khác, trường chuẩn quốc tế, học phí Việt Nam với các tiêu chí mà đề án đưa ra có thể làm “nóng” thêm cuộc đua của những gia đình có điều kiện, đẩy áp lực về phía con trẻ.
Bởi lẽ, khi chưa có đề án, để vào Ams hay Chu Văn An, nhiều phụ huynh phải cho con “chạy đua” từ rất sớm, thậm chí từ tiểu học. Cách sàng lọc tài năng dựa trên cuộc thi có thể luyện tập không thể tạo ra công bằng. Mặt khác, học sinh bị đẩy vào sức ép từ phụ huynh, bằng mọi giá để vào trường chuẩn quốc tế, hưởng chất lượng giáo dục tốt nhất nhưng học phí thấp. Trong khi đó, dù đặt chuẩn đầu ra rất cao song đề án hầu như không đề cập phòng hỗ trợ tâm lý học đường.
Trên các diễn đàn, nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại: khi lấy thước đo là tỷ lệ du học, học bổng hay chứng chỉ quốc tế sẽ khiến giáo dục rơi vào xu hướng “xuất khẩu học sinh giỏi”. Nếu dùng tiền ngân sách để đầu tư cho một nhóm học sinh mà nhóm này không quay trở lại tạo ra giá trị kinh tế hay đóng góp cho nơi đầu tư thì cần phải đặt câu hỏi về hiệu quả đầu tư.
Nếu chỉ đào tạo rồi “xuất khẩu” nhân tài cho các trường đại học nước ngoài, để họ giữ lại làm giảng viên/chuyên gia, đây rõ ràng là thất thoát nguồn lực. Tài năng phát triển ở đâu cũng góp phần làm rạng danh đất nước. Nhưng, thước đo không nên là du học, yếu tố quan trọng hơn là tài năng đó sau này tạo ra được phát minh, sáng chế, giải pháp hay giá trị kinh tế - xã hội gì?
TS. Đỗ Thị Ngọc Quyên cho rằng, để xây dựng được một mô hình phù hợp cần nhiều nghiên cứu nghiêm túc. Trong giáo dục, các chuyên gia không khuyến khích vay mượn mô hình nguyên mẫu nước ngoài. Một mô hình tốt phải phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Muốn vậy, cần nghiên cứu kỹ hiện trạng, chiến lược phát triển nhân lực, chiến lược giáo dục quốc gia cũng như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai. Đặc biệt, vì đây là trường phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân nên mô hình phát triển cũng phải gắn chặt với chiến lược phát triển giáo dục đại học.
Theo PGS.TS Phạm Mạnh Hà, nếu Hà Nội thực sự muốn đầu tư cho nhân tài thì phải tạo điều kiện cho mọi học sinh, bất kể xuất thân từ gia đình nào, đều có cơ hội được phát hiện và bồi dưỡng.
Thành phố nên tạo cơ chế cho doanh nghiệp và tổ chức giáo dục mở các trường chất lượng cao, thậm chí trường quốc tế, nhưng không dùng ngân sách để đầu tư trực tiếp. Thay vào đó, tạo cơ chế để hỗ trợ về đất đai, điều kiện phát triển.
Học phí được tính toán làm sao đảm bảo. Đồng thời, các trường này phải trích một phần lợi nhuận lớn để cấp học bổng cho học sinh thực sự có tài năng. Nếu học sinh còn yếu về ngoại ngữ hay thể chất thì sẽ được hỗ trợ, chứ không phải loại bỏ ngay từ đầu.
Với cách làm đó, địa phương vừa không tốn nhiều ngân sách, vừa có hệ thống trường chất lượng cao mà vẫn đảm bảo công bằng và không bỏ sót nhân tài./.
