Trong câu “Tôi đã ăn cơm” và “Ăn cơm đã”, từ “đã” đứng ở những vị trí khác nhau. Tiến sĩ Phạm Văn Lam - Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam giải thích: "Điểm đáng chú ý ở đây là chúng ta không nên hiểu đơn giản rằng từ ‘đã’ được chuyển từ trước động từ ra cuối câu. Cùng là một hình thức ‘đã’ nhưng khi đứng ở những vị trí khác nhau, trong những cấu trúc khác nhau, từ này đã đảm nhiệm những chức năng ngữ nghĩa, ngữ pháp khác nhau".

Trong câu "Tôi đã ăn cơm", "đã" đứng trước một vị từ hay một động từ là "ăn". Câu này thường đi liền sau câu hỏi là "Ăn cơm chưa?" và cho biết hành động ăn cơm được người nói nhìn nhận là đã được xác lập trước một mốc thời gian nào đó. Trong giao tiếp thông thường, mốc ấy thường là thời điểm nói nên ta dễ hiểu việc ăn cơm xảy ra trước thời điểm hiện tại.

Còn ở trong "Ăn cơm đã", "đã" đứng ở cuối câu, thường gặp trong khẩu ngữ và có ý nghĩa như là một lời đề nghị hay cầu khiến. Nó có nghĩa gần với "trước đã". Hãy thực hiện việc ăn cơm trước rồi mới làm một việc khác. Việc thứ hai này thường không cần nói ra vì người nghe có thể suy ra từ ngữ cảnh. Vì thế sự khác nhau không chỉ do vị trí của từ thay đổi mà là do cấu trúc đã thay đổi.

Từ "đã" cũng có thể xuất hiện trong câu nói về tương lai, như "Ngày mai giờ này tôi đã có mặt ở Hà Nội". Tiến sĩ Phạm Văn Lam cho biết chúng ta không nên hiểu một cách máy móc rằng "đã" là quá khứ.

"Ngày mai giờ này" hiển nhiên là một mốc ở tương lai so với lúc mà người nói phát ra câu nói. Nhưng ở câu "Ngày mai giờ này tôi đã có mặt ở Hà Nội" thì ở đây "ngày mai giờ này" thiết lập một mốc quy chiếu ở trong tương lai.

So với mốc đó, người nói hình dung trạng thái "tôi có mặt ở Hà Nội" đã được xác lập rồi. Nói cách khác, đến thời điểm ấy thì việc di chuyển cần thiết để có mặt ở Hà Nội đã hoàn tất và trạng thái có mặt đã xảy ra. Vì thế giá trị của "đã" ở đây gần với ý nghĩa của thể hoàn thành tương đối.

Trong những cách nói như "Nghe đã quá" hay "Ăn cho đã thèm", từ "đã" diễn tả cảm giác thỏa mãn.

Trong "Nghe đã quá", "đã" gần nghĩa với thích, sướng hay thỏa mãn. Còn trong "Ăn cho đã thèm" thì "đã" biểu thị một trạng thái nhu cầu hay cảm giác được thỏa mãn đến mức đầy đủ.

Tiếng Việt có hàng loạt cách nói tương tự như "uống cho đã khát", "ngủ cho đã mắt", "gãi cho đã ngứa", "nói cho đã giận". Trong những trường hợp này "đã" mang nghĩa từ vựng khá rõ, là hết cảm giác khó chịu vì một nhu cầu sinh lý hay tâm lý nào đó đã được đáp ứng.

Với từ "được", theo TS. Phạm Văn Lam, các ví dụ "Tôi được tặng sách", "Tôi đọc được cuốn sách này" và "Cuốn sách này đọc được" cho thấy từ này có thể đảm nhiệm nhiều chức năng:

"Được" là một trong những từ đa chức năng của tiếng Việt và ba câu này cho thấy khá rõ điều đó.

Trong "Tôi được tặng sách", "được" đứng trước động từ "tặng", theo cách phân tích quen thuộc ở nhà trường, đây thường được gọi là một cấu trúc bị động với từ "được". Nhưng cần nói thêm rằng "được" còn mang sắc thái tích cực, thuận lợi, có lợi hoặc phù hợp với mong muốn của người tiếp nhận.

Trong câu "Tôi đọc được cuốn sách này", "được" đứng sau động từ. Câu này nếu đứng riêng có thể có hơn một cách hiểu. Một là có khả năng đọc được cuốn sách, hai là có cơ hội hay điều kiện để đọc cuốn sách.

Còn trong câu "Cuốn sách này đọc được" lại có thể là một lời đánh giá. Nếu đang nói về nội dung cuốn sách, nó thường có nghĩa là không tệ, ở mức chấp nhận được hoặc có thể đọc.

Khi nhận xét một món ăn hay bài viết, người nói có thể dùng "được", "cũng được" hoặc "được đấy".

"Ba cách nói này đều có thể dùng để đánh giá nhưng không nên xếp chúng vào cùng một thang điểm cố định mà bỏ qua ngữ điệu và ngữ cảnh", TS Phạm Văn Lam phân tích.

"Được" đứng độc lập có thể là một sự chấp nhận. "Được, cứ làm như thế đi." Khi dùng để nhận xét một món ăn hay một bài viết, nó có thể biểu thị sự công nhận khá rõ. Ví dụ "Được!", tức là đạt được yêu cầu, thậm chí khá tốt, tùy theo giọng nói. Một tiếng "được" dứt khoát khác hẳn với một tiếng "được" kéo dài lửng lơ.

"Cũng được" thường làm giảm cường độ đánh giá. Thành tố "cũng" khiến lời nhận xét mang tính dè dặt hoặc nhượng bộ hơn, hoặc cũng có tính miễn cưỡng chấp nhận. Tuy nhiên, trong giao tiếp lịch sự, có người cố tình nói nhẹ đi, vì thế "cũng được" đôi khi không phản ánh chính xác một mức độ khách quan.

Còn "được đấy" thường mang thêm sắc thái nghĩa phát hiện hoặc khích lệ. "Khá đấy!", "Tốt hơn dự kiến đấy!", "Có tiến bộ đấy!". Nhưng nếu đổi hoàn cảnh và ngữ điệu, chính chuỗi nói này có thể mang tính mỉa mai, thách thức hoặc cảnh báo. Chẳng hạn: "Được đấy, cứ chờ xem!"

"Được đấy" nếu nói về món ăn hay bài báo thì còn có hàm ý người nói đã từng thưởng thức, đã từng trải nghiệm rồi. Vì vậy nghĩa đánh giá của "được" không chỉ nằm ở bản thân từ "được", nó còn được tạo ra từ sự kết hợp giữa từ ngữ, giữa các trợ từ mà chúng ta đang đề cập là từ "cũng" và từ "đấy", và ngữ điệu, nét mặt, tình huống hoặc quan hệ giữa những người giao tiếp với nhau.

Qua các ví dụ, có thể thấy ý nghĩa của “đã” và “được” không chỉ nằm ở bản thân từ ngữ. Cấu trúc câu, ngữ điệu, nét mặt, tình huống và quan hệ giữa những người giao tiếp đều góp phần tạo nên cách hiểu.