Có những thời khắc của lịch sử dân tộc không chỉ được ghi dấu bằng sự kiện, mà còn được cảm nhận bằng nhịp đập của con tim, bằng độ sâu lắng của suy tư và những rung động sâu kín trong tâm hồn con người. Đó là những khoảnh khắc khi thời gian dường như chậm lại, để lịch sử tự soi chiếu mình trong ý thức cộng đồng, để quá khứ, hiện tại và tương lai giao thoa trong một điểm hội tụ đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong một thời khắc như thế - khi đất nước đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Bốn mươi năm đổi mới đã lắng lại thành chiều sâu lịch sử. Từ một đất nước nghèo nàn, chịu nhiều mất mát sau chiến tranh, Việt Nam từng bước đứng dậy, đi lên bằng ý chí, trí tuệ và khát vọng bền bỉ của cả dân tộc. Những thành tựu đạt được không chỉ đo đếm bằng con số tăng trưởng, bằng hạ tầng hay diện mạo đô thị, mà còn được kết tinh trong niềm tin xã hội, trong vị thế quốc gia, trong năng lực tự chủ ngày càng rõ nét của nền kinh tế và đời sống tinh thần của Nhân dân. Quan trọng hơn, từ thực tiễn ấy đã hình thành và phát triển một hệ thống lý luận về đường lối đổi mới - một đóng góp đặc sắc của Đảng ta vào kho tàng tư duy chính trị hiện đại, trở thành bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng, cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, soi sáng con đường đi tới tương lai của dân tộc.

Đại hội XIV diễn ra trong bối cảnh thế giới đang chuyển mình sâu sắc và đầy bất định. Trật tự toàn cầu tái cấu trúc nhanh chóng; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm biến đổi căn bản phương thức sống và sản xuất; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; xung đột, khủng hoảng, biến đổi khí hậu và những thách thức phi truyền thống ngày càng gay gắt. Trong dòng xoáy ấy, Việt Nam bước vào Đại hội với một tâm thế rất riêng - vững vàng, bản lĩnh và cháy bỏng khát vọng phát triển.

Đó là tâm thế của một dân tộc đã được thử thách qua những cuộc chiến tranh khốc liệt để giành lấy độc lập, tự do hiện thực hóa khát vọng hạnh phúc. Đó là tâm thế của một Đảng Cộng sản ra đời từ đêm đen nô lệ, trong cảnh “nước mất, nhà tan”, được lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh rèn luyện, được Nhân dân gửi trọn niềm tin và tình yêu máu thịt; một Đảng đã lãnh đạo dân tộc suốt gần một thế kỷ, làm nên những thắng lợi huy hoàng, làm rạng rỡ non sông đất nước.

Và đó còn là tâm thế của những con người đã làm nên những thành tựu mang tầm vóc lịch sử, kiến tạo nên một cơ đồ, tiềm năng, vị thế và uy tín quốc tế chưa từng có; mở ra triển vọng cho một tương lai phát triển vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh và hạnh phúc.

Chính trong chiều sâu lịch sử và tâm thế ấy, Đại hội XIV không chỉ là một sự kiện chính trị quan trọng, mà còn là điểm tựa tinh thần của đất nước, nơi kết tinh niềm tin và khát vọng phát triển của toàn dân tộc. Ở đó, ý Đảng hòa quyện với lòng dân; sức mạnh dân tộc cộng hưởng với sức mạnh thời đại; mọi tiềm năng được đánh thức, mọi động lực được huy động; trách nhiệm và niềm tin cùng hướng tới tương lai. Đó là nơi những trăn trở của thực tiễn được lắng nghe, những khát vọng thầm lặng được gọi tên và những quyết sách chiến lược được hình thành từ chiều sâu của suy tư và trải nghiệm lịch sử.

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa ấy, quá trình xây dựng Văn kiện Đại hội XIV đã trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị - trí tuệ rộng lớn, dân chủ và trách nhiệm. Hàng triệu ý kiến của cán bộ, đảng viên, trí thức, chuyên gia và các tầng lớp Nhân dân trong và ngoài nước đã được lắng nghe, chắt lọc, tiếp thu với tinh thần cầu thị cao nhất. Chỉ trong một tháng lấy ý kiến toàn dân đã có hơn 4,5 triệu lượt người góp ý kiến với hơn 14 triệu ý kiến cụ thể gửi đến Tiểu ban Văn kiện. Chưa bao giờ quá trình xây dựng văn kiện lại hội tụ được nhiều trí tuệ xã hội như vậy. Đó thực sự là một “Hội nghị Diên Hồng” của thời đại mới - nơi lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng tự do, hạnh phúc cùng cộng hưởng và thống nhất trong một mục tiêu phát triển.

Từ nền tảng ấy, Văn kiện Đại hội XIV kết tinh sự thống nhất sâu sắc giữa ý Đảng và lòng dân. Những giá trị cốt lõi của cách mạng Việt Nam tiếp tục được khẳng định và nâng tầm: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phát triển vì con người toàn diện, vì hạnh phúc của Nhân dân; kiên định mục tiêu chiến lược đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong phương thức thực hiện. Đó là biểu hiện sinh động của bản lĩnh chính trị, chiều sâu trí tuệ và tầm nhìn dài hạn của Đảng trước vận hội và thách thức mới của đất nước.

Nhưng nếu khát vọng không được nâng đỡ, bảo đảm bằng một hệ thống thể chế tương xứng, sẽ dễ trở thành mong ước đẹp nhưng khó trở thành hiện thực. Chính vì vậy, một trong những điểm mới có ý nghĩa chiến lược của Đại hội XIV là việc đặt hoàn thiện thể chế phát triển vào vị trí trung tâm của tư duy đổi mới. Trong tư duy mới của Đảng, không còn là những quy định khô cứng hay khuôn khổ hành chính đơn thuần, mà là không gian để khát vọng được hiện thực hóa, là “đường băng” để các nguồn lực cất cánh. Đó là thể chế nhằm khơi thông thay vì ngăn trở, kiến tạo thay vì áp đặt, đồng hành thay vì đứng ngoài cuộc. Một thể chế phát triển minh bạch, ổn định và khoa học nhằm khơi dậy sức sáng tạo trong mỗi con người, giải phóng năng lực của doanh nghiệp, khuyến khích tinh thần dấn thân và đổi mới của mỗi người dân, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Ở một chiều cạnh sâu xa khác, hoàn thiện thể chế chính là hoàn thiện mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội. Nhà nước kiến tạo và dẫn dắt; thị trường phân bổ nguồn lực; xã hội tham gia giám sát, phản biện và đồng hành. Khi ba dòng chảy ấy gặp nhau, sức mạnh phát triển sẽ được nhân lên gấp bội. Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, yêu cầu đổi mới thể chế không chỉ là để thích ứng, mà là để chủ động định hình tương lai. Đó cũng là thước đo bản lĩnh cầm quyền, năng lực lãnh đạo và chiều sâu trí tuệ của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

Cùng với đó, Đại hội XIV xác định rõ những đột phá chiến lược về mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân. Đó là con đường phát triển hài hòa, bền vững, mang chiều sâu nhân văn.

Xuyên suốt Văn kiện Đại hội XIV là hình ảnh con người - không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà là chủ thể sáng tạo. Không có con người phát triển, nguồn lực con người chất lượng cao, thì không thể có phát triển nhanh, bền vững. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Đầu tư cho giáo dục, cho tri thức, cho văn hóa, cho nhân cách không chỉ là chính sách xã hội, mà được khẳng định là chiến lược phát triển lâu dài của quốc gia. Khi con người được khơi mở tiềm năng, được tôn trọng và trao cơ hội, thì sức mạnh nội sinh của dân tộc sẽ được đánh thức. Đó cũng là lúc khát vọng không còn là lời kêu gọi, mà trở thành động lực sống động trong từng gia đình, từng cộng đồng, từng con người cụ thể.

Chính vì thế, văn kiện Đại hội yêu cầu sớm xây dựng và thực hiện các hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và con người Việt Nam làm cơ sở cho việc xây dựng nền văn hóa trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và hệ điều tiết xã hội. Đó cũng là lý do vì sao Văn kiện nhấn mạnh xây dựng nền giáo dục hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nuôi dưỡng khát vọng vươn lên trong mỗi người dân.

Văn kiện Đại hội XIV xác định bảo vệ môi trường được đặt ngang hàng với phát triển kinh tế, xã hội như một trụ cột trung tâm. Điểm mới này cho thấy một bước trưởng thành quan trọng trong tư duy phát triển: không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng trước mắt. Trong thế giới đang đối diện khủng hoảng khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, lựa chọn phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng không chỉ là xu thế mà là mệnh lệnh của thời đại. Đó cũng là cách Việt Nam thể hiện trách nhiệm với thế hệ mai sau và với cộng đồng quốc tế.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, thực hành và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa được văn kiện Đại hội XIV đặt trong logic thống nhất hài hòa với điều kiện, yêu cầu và khát vọng phát triển của đất nước. Một khi thực tiễn đã chỉ ra vấn đề có tính quy luật rằng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, thì xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đạo đức và văn minh lại càng có ý nghĩa quan trọng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Đó không chỉ là một yêu cầu khách quan, mà còn là mệnh lệnh của trái tim trước Nhân dân và dân tộc.

Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã mang lại mô hình tổ chức mới, những điều kiện căn bản cần thiết cho đổi mới, nâng tầm của Nhà nước, nhất là hệ thống chính quyền địa phương hai cấp. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, trách nhiệm, đạo đức công vụ và vận hành thông suốt hệ thống chính quyền, đặc biệt là chính quyền địa phương hai cấp chính là để phục vụ nhân dân tốt, khơi dạy, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong xây dựng, phát triển đất nước và củng cố niềm tin của Nhân dân.

Khi Đảng mạnh, Nhà nước mạnh, thì lòng dân yên, niềm tin của dân được củng cố, mọi nguồn lực trong dân được đánh thức và sức mạnh của Nhân dân được phát huy. Đó cũng chính là một biểu hiện sinh động của phương châm phát triển để ổn định, ổn định để phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân.

Đặc biệt, lần đầu tiên Chương trình hành động được đặt ngay trong cấu trúc của Văn kiện, như sự cam kết rằng tư duy sẽ đi liền với hành động, mục tiêu sẽ đi kèm với phương thức thực hiện. Điều đó cho thấy quyết tâm không để nghị quyết dừng lại ở tầm định hướng, mà phải trở thành nhịp sống mạnh mẽ của xã hội. Chương trình hành động chính là cách để hiện thực hóa khát vọng phát triển. Ở đây, điều đáng chú ý không chỉ là làm gì, mà còn là ai làm, làm như thế nào, bằng nguồn lực gì, lúc nào thì xong và kết quả ra sao.

Đồng thời để đảm bảo thành công cho Chương trình hành động, văn kiện Đại hội đặt ra yêu cầu cao về kỷ luật thực thi, trách nhiệm cá nhân, hiệu quả quản trị, tiến độ thực hiện và sự đồng bộ trong hành động. Thước đo của thành công không nằm trên giấy, mà nằm trong đời sống, thể hiện bằng chất lượng tăng trưởng, chất lượng môi trường, chất lượng giáo dục, chất lượng hạnh phúc cũng như sự hài lòng của người dân.

Chính sự thay đổi này tạo ra một năng lượng mới, một phong cách làm việc mới cho toàn bộ hệ thống chính trị, cơ sở hàng đầu bảo đảm cho mọi đường lối, chủ trương của Đảng đề ra tại Đại hội sẽ được tổ chức thực hiện thành công, nhanh chóng phát huy hiệu quả, đóng góp kịp thời vào sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Đại hội XIV là Đại hội của niềm tin và khát vọng phát triển. Niềm tin được bồi đắp từ thực tiễn đổi mới; khát vọng được thắp sáng bởi tầm nhìn chiến lược và ý chí dân tộc. Khi niềm tin hòa cùng khát vọng, khi ý Đảng hợp với lòng dân, khi trí tuệ được đánh thức và trách nhiệm được lan tỏa, con đường phía trước, dù còn nhiều thử thách, vẫn rộng mở.

Đó là con đường để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với khát vọng lớn, ý chí mạnh mẽ và hành động quyết liệt; để đất nước không chỉ giàu mạnh, Nhân dân hạnh phúc, mà còn đủ bản lĩnh và trí tuệ góp phần kiến tạo hòa bình, tiến bộ và tương lai của nhân loại.

(GS Tạ Ngọc Tấn - Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng lý luận Trung ương, nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)