Đau lưng, đau cổ đang trở thành vấn đề sức khỏe phổ biến ở nhiều lứa tuổi. Không chỉ người lao động chân tay mà cả nhân viên văn phòng, người trẻ tuổi cũng thường xuyên gặp các cơn đau liên quan đến cột sống. Khi được bác sĩ đề cập đến khả năng phẫu thuật, nhiều người vẫn tỏ ra lo ngại bởi trong suy nghĩ của không ít bệnh nhân, mổ cột sống là ca phẫu thuật phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro và cần thời gian hồi phục dài.
Tuy nhiên, theo Ths.BSNT Võ Văn Thanh, Khoa phẫu thuật cột sống, Bệnh viện Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, những tiến bộ trong công nghệ và kỹ thuật phẫu thuật trong nhiều năm qua đã làm thay đổi đáng kể quan niệm này. Phẫu thuật cột sống hiện nay không chỉ an toàn hơn mà còn ít xâm lấn hơn, giúp người bệnh phục hồi nhanh và sớm quay lại sinh hoạt bình thường.
Bệnh lý cột sống ngày càng phổ biến và có xu hướng trẻ hóa
Trong thực tế lâm sàng, các bệnh lý cột sống thường gặp nhất hiện nay vẫn là các bệnh lý thoái hóa như thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống hay trượt đốt sống do thoái hóa hoặc khuyết eo. Ở vùng cổ, người bệnh thường gặp tình trạng thoái hóa cột sống cổ kèm chèn ép rễ thần kinh hoặc chèn ép tủy sống.
Ngoài ra, ở người cao tuổi, xẹp đốt sống do loãng xương cũng là nguyên nhân phổ biến gây đau lưng kéo dài. Trong khi đó, ở người trẻ tuổi, nhiều trường hợp đau lưng lại xuất phát từ nguyên nhân cơ học liên quan đến lối sống ít vận động, ngồi nhiều hoặc chơi thể thao sai cách.
Bệnh lý cột sống hiện nay đang có xu hướng trẻ hóa rõ rệt. Nguyên nhân chủ yếu là do thói quen sinh hoạt thay đổi, đặc biệt là tình trạng ngồi lâu, làm việc tĩnh tại và sử dụng điện thoại hoặc thiết bị điện tử trong thời gian dài với tư thế không đúng.
“Các nghiên cứu cho thấy nếu ngồi liên tục từ 45 đến 60 phút mà không thay đổi tư thế hoặc vận động thì áp lực lên vùng cột sống thắt lưng sẽ tăng lên đáng kể. Ngoài ra, thừa cân, hút thuốc hoặc lao động nặng lặp đi lặp lại cũng là những yếu tố nguy cơ đối với đau lưng và thoát vị đĩa đệm”- bác sĩ Võ Văn Thanh cho biết.
Một yếu tố khác khiến bệnh lý cột sống được phát hiện nhiều hơn ở người trẻ là do người dân hiện nay quan tâm hơn đến sức khỏe và chủ động đi khám sớm. Các phương tiện chẩn đoán hiện đại như chụp cộng hưởng từ (MRI) cũng giúp phát hiện tổn thương cột sống ở giai đoạn sớm.
Công nghệ hiện đại giúp phẫu thuật cột sống chính xác hơn
Khoảng 90% bệnh lý cột sống có thể điều trị bằng các phương pháp bảo tồn như dùng thuốc, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng hoặc các kỹ thuật can thiệp giảm đau. Chỉ khoảng 10% trường hợp cần phẫu thuật, thường là khi xuất hiện tình trạng chèn ép thần kinh nặng hoặc cột sống mất vững.
Trong những năm gần đây, sự phát triển của công nghệ đã giúp phẫu thuật cột sống có nhiều thay đổi quan trọng. Một trong những xu hướng nổi bật là phẫu thuật ít xâm lấn và phẫu thuật nội soi cột sống. Với kỹ thuật này, đường rạch da nhỏ hơn nhiều so với phương pháp mổ truyền thống, hạn chế tổn thương cơ và mô mềm quanh cột sống.
Nhờ đó, người bệnh ít đau sau mổ, giảm mất máu và thời gian hồi phục nhanh hơn.
Bên cạnh đó, kính vi phẫu và hệ thống nội soi phóng đại giúp phẫu thuật viên quan sát rõ các cấu trúc giải phẫu nhỏ, đặc biệt là các dây thần kinh, từ đó thao tác chính xác hơn và giảm nguy cơ biến chứng.
Một bước tiến quan trọng khác là việc ứng dụng hệ thống định vị trong phẫu thuật (Navigation). Công nghệ này cho phép bác sĩ xác định chính xác vị trí cần can thiệp trong thời gian thực, giống như sử dụng bản đồ dẫn đường trong phòng mổ. Nhờ vậy, việc đặt vít cố định cột sống hay đưa các dụng cụ cấy ghép vào cơ thể người bệnh trở nên chính xác hơn.
Ngoài ra, nhiều trung tâm phẫu thuật lớn tại Việt Nam hiện đã bắt đầu ứng dụng robot hỗ trợ phẫu thuật cột sống. Robot giúp phẫu thuật viên định vị và đặt vít chính xác hơn, đặc biệt trong những vị trí giải phẫu phức tạp. Một số hệ thống robot thế hệ mới có thể đạt độ chính xác lên tới khoảng 99,9%.
Không chỉ hỗ trợ định vị, các hệ thống theo dõi thần kinh trong mổ cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao độ an toàn của phẫu thuật cột sống. Công nghệ này giúp theo dõi liên tục hoạt động của các dây thần kinh trong quá trình phẫu thuật, giúp bác sĩ kịp thời phát hiện và tránh các nguy cơ tổn thương thần kinh.
Phẫu thuật ít xâm lấn giúp rút ngắn thời gian hồi phục
Theo bác sĩ Võ Văn Thanh, nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật phẫu thuật và hệ thống gây mê hồi sức hiện đại, quá trình phẫu thuật cột sống hiện nay an toàn hơn rất nhiều so với trước đây.
Các kỹ thuật mổ ít xâm lấn giúp giảm đáng kể tổn thương cơ và mô mềm quanh cột sống, đồng thời hạn chế mất máu trong mổ. Thời gian gây mê cũng được rút ngắn, giúp người bệnh tỉnh táo sớm hơn sau phẫu thuật.
Đặc biệt, người bệnh có thể vận động sớm sau mổ, điều này rất quan trọng trong quá trình hồi phục. Việc vận động sớm không chỉ giúp cải thiện chức năng vận động mà còn giảm nguy cơ biến chứng và giúp bệnh nhân sớm quay trở lại sinh hoạt bình thường.
Bên cạnh cuộc mổ, quá trình điều trị còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chăm sóc sau mổ, điều trị nội khoa và tập phục hồi chức năng. Theo các chuyên gia, việc điều trị bệnh lý cột sống hiện nay được tiếp cận theo hướng đa mô thức, tức là có sự phối hợp của nhiều chuyên khoa như phẫu thuật, nội khoa, phục hồi chức năng và gây mê hồi sức.
Phẫu thuật cột sống trong tương lai: cá thể hóa điều trị
Bác sĩ Võ Văn Thanh thông tin thêm: phẫu thuật cột sống tại Việt Nam đang phát triển nhanh và tiệm cận với nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Trong tương lai, sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (AI), robot phẫu thuật và các hệ thống chẩn đoán hình ảnh hiện đại sẽ giúp việc điều trị ngày càng chính xác và cá thể hóa hơn.
Các công nghệ mới có thể giúp bác sĩ phân tích dữ liệu bệnh nhân, dự đoán tiến triển bệnh và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp nhất cho từng trường hợp.
Tuy nhiên, bác sĩ Võ Văn Thanh cũng nhấn mạnh: bên cạnh sự tiến bộ của y học, việc duy trì lối sống lành mạnh vẫn đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa bệnh lý cột sống. Những thay đổi nhỏ như ngồi đúng tư thế, thay đổi tư thế sau mỗi 45–60 phút làm việc, duy trì vận động và đi khám sớm khi xuất hiện đau lưng kéo dài có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc các bệnh lý cột sống.
