Thất nghiệp gia tăng, bảo hiểm thất nghiệp càng khẳng định vai trò

Thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến làn sóng thất nghiệp gia tăng ở mức đáng lo ngại do nhiều nguyên nhân như việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy tại các cơ quan nhà nước, quá trình chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ làm thay đổi nhu cầu sử dụng lao động cùng với những khó khăn kéo dài trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.

Trong bối cảnh này, bảo hiểm thất nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Đó không chỉ là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời mà còn là “tấm đệm an toàn” giúp người lao động trải qua giai đoạn khó khăn trong thời gian tìm kiếm cơ hội mới.

Theo ông Lê Quang Trung, Nguyên Phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm, Bộ Nội vụ, Việt Nam là một trong những quốc gia triển khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp khá sớm trong khu vực ASEAN. Sau 16 năm thực hiện, chính sách này đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội.

Riêng năm 2025, cả nước có hơn 816.000 người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp. Trong 5 tháng đầu năm 2026, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt hơn 17,37 triệu người, tăng khoảng 175.000 người so với cùng kỳ; hơn 245.000 người được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đặc biệt, trong giai đoạn dịch COVID-19, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã hỗ trợ trên 30.000 tỷ đồng cho người lao động và doanh nghiệp, góp phần giảm bớt khó khăn trong giai đoạn khủng hoảng.

Khoảng trống giữa trợ cấp, tư vấn, giới thiệu việc làm và đào tạo nghề

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song một thực tế đáng chú ý là chức năng tư vấn, giới thiệu việc làm và đào tạo nghề của bảo hiểm thất nghiệp vẫn chưa được khai thác hiệu quả.

Theo thống kê, trong năm 2025, hơn 816.000 người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng chỉ có hơn 22.000 người (gần 2,7%) người tham gia các khóa học nghề. Con số này phản ánh khoảng cách khá lớn giữa mục tiêu của chính sách và nhu cầu thực tế.

Theo ông Lê Quang Trung, nguyên nhân xuất phát từ nhiều phía. Về phía người lao động, nhiều người chưa nhận thức đầy đủ giá trị của việc đào tạo lại để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường lao động. Trong khi đó, áp lực tài chính khiến không ít người lựa chọn tìm kiếm các công việc có thu nhập ngay như giao hàng, xe công nghệ hay lao động phổ thông thay vì dành thời gian học nghề.

Bên cạnh đó, nhiều người chưa thực sự tin tưởng rằng việc tham gia các khóa đào tạo sẽ giúp họ tìm được việc làm tốt hơn sau khi hoàn thành khóa học.

Ở chiều ngược lại, chương trình đào tạo tại một số cơ sở vẫn chưa bám sát nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp. Nội dung đào tạo, kỹ năng nghề và ngành nghề được hỗ trợ còn thiếu tính cập nhật, dẫn đến sức hút đối với người lao động chưa cao.

Người lao động vẫn chưa “mặn mà” với dịch vụ việc làm

Ghi nhận tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội cho thấy khu vực tiếp nhận hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp luôn đông người đến làm thủ tục. Tuy nhiên, khu vực tư vấn giới thiệu việc làm lại khá vắng vẻ.

Nhiều lao động cho biết họ chủ yếu đến để hoàn tất thủ tục nhận trợ cấp, còn việc tìm kiếm việc làm được thực hiện thông qua các nền tảng tuyển dụng trực tuyến vì thuận tiện và nhanh chóng hơn.

Không ít lao động có trình độ đại học, kỹ sư hoặc từng làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng cho rằng các vị trí tuyển dụng được giới thiệu tại trung tâm chưa thực sự phù hợp với chuyên môn và kinh nghiệm của họ.

“Thực sự là khó bởi vì mình mới nhìn qua các danh sách việc làm ấy thì thấy chủ yếu tìm tạp vụ, lái xe, nhân viên bán hàng, maketing… do đó chưa thấy có việc nào mà mình có thể nộp hồ sơ vào được” – một người đã có nhiều năm làm việc với doanh nghiệp nước ngoài chia sẻ.

Hệ thống Trung tâm Dịch vụ việc làm và Sàn giao dịch việc làm quốc gia đã tồn tại nhiều năm qua. Đây vẫn là kênh thông tin tuyển dụng chính thống, có độ tin cậy cao do các thông tin đều được kiểm chứng từ doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều người lại không biết đến sự hiện diện của kênh thông tin này để tiếp cận.

“Mặc dù thời gian qua, các Trung tâm dịch vụ việc làm, cơ quan bảo hiểm xã hội đã rất cố gắng trong công tác tư vấn, cải cách thủ tục hành chính nhưng do nhận thức, chính sách, khâu tổ chức thực hiện cả về cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Về phía người lao động, không ít người chưa coi trọng vấn đề đào tạo để chủ động tham gia thị trường lao động” – ông Lê Quang Trung nhận định.

Để bảo hiểm thất nghiệp thực sự phát huy vai trò là chính sách an sinh chủ động

Mục tiêu cốt lõi của bảo hiểm thất nghiệp không phải là kéo dài thời gian hưởng trợ cấp mà là rút ngắn thời gian thất nghiệp. Muốn vậy, chính sách cần được thiết kế theo hướng chủ động hơn, lấy việc duy trì và tạo việc làm làm trung tâm.

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp cần tiếp tục hoàn thiện phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số và sự thay đổi của thị trường lao động; Mở rộng các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp nhằm giữ chân người lao động thay vì sa thải khi gặp khó khăn; Tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và trung tâm dịch vụ việc làm nhằm rút ngắn thời gian tìm kiếm việc làm; Phát triển hệ sinh thái số tích hợp, giúp người lao động chỉ cần thực hiện một lần đăng ký là có thể đồng thời tiếp cận trợ cấp thất nghiệp, cơ hội việc làm, các khóa đào tạo và thông tin thị trường lao động” – ông Lê Quang Trung đề xuất.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, tự động hóa và tái cơ cấu việc làm diễn ra mạnh mẽ thì bảo hiểm thất nghiệp không nên chỉ là khoản hỗ trợ khi người lao động mất việc, mà cần giúp người lao động nhanh chóng tìm được việc làm mới, nâng cao kỹ năng thích ứng với những thay đổi của nền kinh tế và tự tin bước tiếp trên hành trình nghề nghiệp.

Khi đó bảo hiểm thất nghiệp không chỉ là “tấm đệm an toàn” mà còn trở thành “bệ phóng” cho sự phát triển của người lao động, góp phần xây dựng một thị trường lao động linh hoạt, hiện đại và bền vững.