Thời gian qua, các xã lân cận và thành phố Hòa Bình của tỉnh Phú Thọ đã có sự quan tâm phát triển tiềm năng dược liệu sẵn có tại địa phương như sả, cà gai leo, xạ đen. Ngoài ra, còn các loại cây dược liệu khác như: Nghệ đỏ, nghệ vàng, Ngải cứu, Giảo cổ lam, Đẳng sâm, Hương nhu, Đinh lăng, Cát sâm, Thìa canh... Anh Phùng Văn Tình (GĐ HTX dược liệu cổ truyền Phùng Gia, thành phố Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ) cho biết, cơ sở đã cung cấp 13 sản phẩm thuốc và dược liệu ra thị trường, trong đó có một số sản phẩm được chứng nhận OCOP. “Hợp tác xã nhà mình có khoảng 5ha trồng thìa canh, giảo cổ lam, bồ công anh và một số vị thuốc quý hiếm để mình nhân giống trồng để duy trì dược liệu cổ truyền của người Dao - Hòa Bình. Dược liệu bên mình trồng 100% sạch, không thuốc trừ sâu, trồng tự nhiên, không phân bón … để đảm bảo sức khỏe cho mọi người. Có một số vị thuốc quý hiếm thì mình phải vào núi lấy có công nhân đi kiếm hoặc mình thu mua lại của những người vào núi hái”- anh Tình cho hay.
Xã Ba Vì, thành phố Hà Nội cũng nổi tiếng với truyền thống nghề thuốc Nam lâu đời của người Dao, tập trung phát triển diện tích lớn, gắn liền với Vườn Quốc gia Ba Vì và là "thủ phủ" về dược liệu. Khu vực này có hơn 500 loài dược liệu khác nhau, trong đó có những loài quý hiếm, đặc hữu.
Để tạo sự ổn định cũng như đảm bảo chất lượng sản phẩm, nhiều HTX sản xuất nam dược đã được thành lập và ứng dụng khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất. Ngày càng có nhiều sản phẩm nam dược đạt chứng nhận OCOP góp phần đáng kể vào việc phát triển, lan tỏa các giá trị quý giá từ cây thuốc Nam. Ông Trương Mạnh Hải, TGĐ HTX Nam dược Tản Viên Sơn cho biết, HTX đã thu mua ngay dược liệu của bà con bản địa. Đến giờ HTX đã có bộ phận kỹ thuật hướng dẫn bà con để đưa về nhà máy bào chế chiết xuất. Bên cạnh đó, HTX Nam dược Tản Viên Sơn đã xây dựng các phòng nghiên cứu vi sinh, hóa lý và có chuyên gia về dược học để bảo đảm các mẫu sản phẩm đạt tiêu chuẩn theo quy định của ngành y tế. Vẫn là các dược liệu, bài thuốc truyền thống song quy trình sản xuất được khép kín hoàn toàn.
Trong Nghị quyết 72 NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân có nhấn mạnh đến việc phát huy tiềm năng và thế mạnh của y học cổ truyền. Trong đó có đề cập việc “phát huy tiềm năng dược liệu, đẩy mạnh quy hoạch, phát triển vùng trồng dược liệu đạt tiêu chuẩn. Bảo tồn tri thức truyền thống và phát huy giá trị đa dụng của dược liệu, các bài thuốc, phương pháp truyền thống. Tập trung nâng cao chất lượng y học cổ truyền, nhất là thuốc cổ truyền, dược liệu đạt mức tương đương của các nước có nền y học cổ truyền phát triển”.
Theo PGS.TS.BS Đậu Xuân Cảnh- Chủ tịch Hội Đông Y Việt Nam, có một số thách thức cần vượt qua để YHCT có thể đạt được mục tiêu này.
“Vấn đề thứ nhất là quy hoạch, chúng ta quy hoạch thế nào để phù hợp với diện tích trồng, phù hợp với quy mô công nghiệp bởi trong dược liệu có đặc trưng liên quan đến vùng trồng, đất trồng. Thứ hai, đó là vấn đề về giống, chúng ta cần một trung tâm về giống có quy mô, đặc biệt là giống sạch. Thứ ba là cần có mối liên minh, liên kết giữa người trồng với các doanh nghiệp để dược liệu được xử lý đầu ra. Rồi vấn đề kho bãi, vấn đề về vốn, rồi số đăng ký cho sản phẩm thuốc hay thực phẩm có liên quan đến dược liệu, vấn đề công nghệ chế biến…”- PGS Đậu Xuân Cảnh nói.
Theo các chuyên gia, để phát triển dược liệu nói riêng và YHCT nói chung cần có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và người sản xuất. Việc sản xuất cây dược liệu đòi hỏi các tiêu chuẩn và quy định khắt khe, nếu người dân trồng cây dược liệu theo hướng tự phát sẽ khó đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật. Thay vào đó, cần xác định phát triển các vùng chuyên canh trồng cây dược liệu kết hợp hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, bảo quản, chế biến dược liệu, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Trong giai đoạn hiện nay, việc sáng tạo hoặc nghiên cứu thêm những bài thuốc mới đạt hiệu quả cao hơn cũng là một vấn đề cần quan tâm. PGS.TS.BS Đậu Xuân Cảnh nhấn mạnh, ngoài nhiệm vụ bảo tồn những bài thuốc có giá trị từ ngàn đời nay, y học cổ truyền còn phải đáp ứng yêu cầu nghiên cứu những bài thuốc mới, các chế phẩm mới để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cũng như chăm sóc sức khỏe của người dân.
“Chúng tôi hiện nay đang đẩy mạnh các hoạt động, ví dụ như đặt hàng cho người nông dân để chúng tôi bao tiêu các sản phẩm đầu ra. Chúng tôi cũng kết hợp với các nhà khoa học tìm và nghiên cứu các bằng chứng khoa học để tạo ra sản phẩm thuốc mới. Vì thuốc mới hiện nay và các sản phẩm như dinh dưỡng cũng phải được đánh giá dựa trên các chỉ số khoa học, bằng chứng khoa học thì mới có thể thuyết phục và công bố rộng rãi trong cộng đồng, đặc biệt hiện nay các bằng chứng khoa học phải được thể hiện trên nhãn sản phẩm”- ông Cảnh chia sẻ.
Không chỉ liên kết với người nông dân để nâng cao sản lượng và chất lượng dược liệu, Hội Đông Y Việt Nam còn đẩy mạnh hợp tác đa ngành để sản xuất, bào chế các loại thuốc mới.
“Hội Đông Y Việt Nam phối hợp với Hội Nông nghiệp tuần hoàn, Hội nông dân Việt Nam để trồng dược liệu theo phương pháp hữu cơ. Có như vậy, mình mới có thể bảo vệ, bảo đảm được các tiêu chuẩn về vệ sinh, tiêu chuẩn của dinh dưỡng để đưa ra thị trường. Đặc biệt, khi chúng ta xuất khẩu ra nước ngoài thì tiêu chuẩn của quốc tế họ đặt ra những tiêu chuẩn rất là cao trong vấn đề dược liệu. Một trong những chương trình của chúng tôi là chương trình hợp tác, như vừa rồi chúng tôi hợp tác với Trung Quốc và các nước ASEAN về vấn đề nuôi trồng dược liệu, về nghiên cứu, bào chế các loại thuốc phòng, chống tai biến mạch máu não. Đặc biệt, một trong những nội dung mà chúng tôi quan tâm hiện nay đó là những vấn đề về dinh dưỡng não, phòng chống bệnh Alzheimer- suy giảm trí nhớ từ các bài thuốc đông y. Bước đầu nghiên cứu chúng tôi thấy đang đem lại những kết quả khả quan”- PGS.TS.BS Đậu Xuân Cảnh cho hay.
