Tại Việt Nam, kỹ thuật này đã có những bước tiến vượt bậc, trở thành một trong những mũi nhọn y tế của khu vực. Các bệnh viện của chúng ta hiện đã làm chủ được nhiều kỹ thuật can thiệp bào thai phức tạp, nhờ đó giúp giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh và gánh nặng bệnh tật cho trẻ sau khi chào đời.
Theo thống kê, mỗi năm nước ta có khoảng 1,6 triệu trẻ sơ sinh ra đời, trong đó tỷ lệ trẻ bất thường chiếm khoảng 2%, cứ 100 trẻ sẽ có 2 trẻ có vấn đề về sức khoẻ hoặc tật nguyền ở mức độ hoà nhập cuộc sống kém, hoặc không thể hoà nhập được, thậm chí tử vong.
TTND.GS.TS.BS Nguyễn Duy Ánh- GĐ BV Phụ sản TƯ- người đã đặt nền móng cho y học bào thai tại nước ta cho rằng: việc cứu sống được 2% trẻ rất có giá trị để nâng cao chất lượng dân số Việt Nam. Chính vì thế, việc làm chủ kỹ thuật can thiệp bào thai, đặc biệt là những kỹ thuật khó đang là mục tiêu hướng tới của ngành sản khoa nước ta.
“Nói về y học bào thai ở Việt Nam thì cũng rất may mắn cho tôi là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam được gửi đi các cái khóa đào tạo ở Châu Âu, những khóa thực hành, những hội nghị về y học bào thai. Mà quả thật lần đầu chúng tôi đến thì nó như là một thế giới khác về y học. Bởi lẽ lĩnh vực này ở thế giới ở mức độ chuyên sâu cũng còn rất mới mẻ. Và càng quyết tâm hơn khi có sự hỗ trợ của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Thành ủy Hà Nội đã hỗ trợ cho cái bệnh viện mà lúc đó tôi công tác là Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là quyết tâm mở ra một trung tâm, đó là trung tâm đầu tiên của Việt Nam: Trung tâm Y học bào thai vào năm 2019”.
Năm 2025, Bệnh viện Phụ sản Trung ương cũng đã thành lập Trung tâm Y học bào thai. Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện hàng đầu tuyến cuối và có vai trò chỉ đạo tuyến trong cả nước. Do vậy, theo GS Nguyễn Duy Ánh, tất cả những kỹ thuật cao, kỹ thuật mũi nhọn sẽ được nghiên cứu và triển khai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. GĐ Trung tâm Y học bào thai- Bệnh viện Phụ sản Trung ương- TS.BS Đỗ Tuấn Đạt cho biết, hiện Trung tâm đã có đủ máy móc, trang thiết bị và nhân lực để thực hiện các kỹ thuật được cho là khó trên thế giới.
“Những kỹ thuật chúng ta đang làm được như là hội chứng truyền máu này, chúng ta có thể đốt những cái cầu nối mạch giữa hai em bé; song thai chậm phát triển chọn lọc trong buồng tử cung có nguy cơ tử vong; rồi là những cái trường hợp đặt shunt màng phổi, shunt màng bụng hoặc là đặt shunt giữa bàng quang và buồng ối để giải phóng những cái tạng bị chèn ép là chúng tôi đều đã thực hiện ở đây rồi”- TS.BS Đạt chia sẻ.
Sự phát triển của y học bào thai tại nước ta đã được các chuyên gia nước ngoài đánh giá cao. Mới đây, trong chuyến thăm và làm việc tại nước ta, GS Roland Devlieger - Nguyên Trưởng đơn nguyên Y học Bà mẹ - Thai nhi, khoa Sản phụ, Bệnh viện Đại học Lueven, Giảng viên chính Đại học Lueven -Vương quốc Bỉ đã rất ấn tượng về cơ sở vật chất và khả năng chuyên môn của các bác sĩ Việt Nam trong lĩnh vực can thiệp bào thai.
“Hầu hết các nhân viên y tế đã được đào tạo bài bản. Đặc biệt, nhóm bác sĩ điều trị can thiệp bào thai đã được đào tạo ở nước ngoài nên rất giỏi về chuyên môn. Tuy nhiên, vì chương trình phẫu thuật bào thai vẫn là khá mới do vậy các bác sĩ Việt Nam cần thêm nhiều kinh nghiệm nữa. Và tôi thấy, các bác sĩ đã và đang nắm bắt rất nhanh về kỹ thuật và có khả năng đưa công nghệ cũng như một số ca phẫu thuật mới vào quy trình rất nhanh chóng”- GS Roland Devlieger cho hay.
Thời gian tới, lĩnh vực y học bào thai tại nước ta không chỉ tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị… mà còn chú trọng công tác đào tạo và thực hành theo quy trình chuẩn quốc tế.
“Hiện nay có những kỹ thuật đã được cả thế giới công nhận như một quy chuẩn chính thống, có quy trình, có phác đồ rất rõ rệt và chúng ta chắc chắn rằng, Bộ Y tế sẽ cho tất cả các trung tâm được triển khai theo tiêu chuẩn mà quốc tế ghi nhận. Ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương có những kỹ thuật khó sẽ làm như đặt shunt dẫn lưu. Ngoài ra, có một đề tài cấp quốc tế liên quan đến kháng thể bất thường ở trong máu của bào thai mà phải truyền máu. Đặc biệt là kỹ thuật đặt bóng trong đường khí quản để điều trị những trường hợp thoát vị hoành nặng có nguy cơ làm thiểu sản phổi và em bé khi sinh ra sẽ không có phổi để thở. Đây là một trong bốn kỹ thuật khó nhất trong trong can thiệp bào thai hiện nay và Bệnh viện Phụ sản Trung ương sẽ đảm đương kỹ thuật này. Còn một kỹ thuật khó nữa thì ở Bệnh viện Từ Dũ cũng đã được đã được thực hiện và Bộ Y tế cũng đã thẩm định kỹ thuật này hai lần tại Bệnh viện Từ Dũ đó là kỹ thuật thông tim” – GS Nguyễn Duy Ánh chia sẻ.
Với những bước tiến bền vững trong việc nâng cao năng lực chẩn đoán và điều trị chuyên sâu, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Y học bào thai…chắc chắn sẽ mang lại cơ hội sống và chất lượng sống tốt hơn cho thai nhi ngay từ trong bụng mẹ.
