Ba thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) chào đời, nhưng tên tuổi của ông vẫn luôn được nhắc đến như một biểu tượng của trí tuệ Việt Nam.

- Lê Quý Đôn tên thật là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 2/8/1726, trong một gia đình khoa bảng quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ (nay là xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên).

- Ông là con trai cả của quan Hình bộ Thượng thư Lê Phú Thứ (sau đổi là Lê Trọng Thứ). Ngay từ thuở nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng là người ham học, thông minh, có trí nhớ tốt, được người đương thời coi là "thần đồng".

-17 tuổi, Lê Quý Đôn thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn. Sau khi đã đỗ đạt, Lê Quý Đôn được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê - Trịnh.

- Ông có học vấn sâu rộng, được các học giả Trung Quốc, Triều Tiên thời đó rất khâm phục. Ông để lại cho đời gần 50 tác phẩm có giá trị cả về văn học, lịch sử, triết học, tư pháp, ngôn ngữ và ngoại giao, trong đó có tác phẩm “Vân đài loại ngữ” được coi như một cuốn bách khoa thư.

Điều làm nên tầm vóc đặc biệt của nhà bác học Lê Quý Đôn không chỉ là sự uyên bác, mà còn là một nhà tư tưởng có tinh thần khai mở, luôn đề cao việc học đi đôi với thực tiễn, coi tri thức là nền tảng để trị quốc, an dân và phát triển đất nước. Nhiều tư tưởng của ông về trọng dụng nhân tài, phát triển kinh tế, gìn giữ văn hóa hay quản trị quốc gia đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.

Tại cuộc hội thảo quốc tế về nhà bác học Lê Quý Đôn, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Thể thao và Du lịch Việt Nam nhận định, trong lịch sử 300 năm qua, nhiều nghiên cứu của các học giả cho thấy, Lê Quý Đôn là người có tư tưởng đi trước thời đại: “Dù ở vị trí nào ông cũng thể hiện tài năng của một vị quan mẫn cán, hết lòng phò tá Lê – Trịnh nhưng lại luôn luôn gần gũi với nhân dân, mong muốn cải thiện và đem lại cuộc sống ấm no hơn cho người dân bằng những hành động thiết thực và cụ thể. Bất kể đảm nhiệm một vị trí nào trong cung vua, Lê Quý Đôn đều đề xuất những cải cách có lợi cho việc trị nước an dân trên nhiều lĩnh vực như tư pháp, kinh tế, nông nghiệp, giáo dục và ngoại giao. Có thể nói rằng, với trí tuệ xuất chúng và có điều kiện tiếp cận được với các nguồn tri thức ở cả trong sách lẫn ngoài thực tiễn, tư tưởng tiến bộ của Lê Quý Đôn đã biến ông trở thành một nhà cải cách đi trước thời đại”.

Khác với nhiều học giả cùng thời chỉ chú trọng kinh điển Nho học, Lê Quý Đôn đặc biệt coi trọng tri thức thực tiễn. Ông cho rằng học phải gắn với đời sống, tri thức phải phục vụ phát triển đất nước.

Theo các tư liệu lịch sử còn ghi lại cho thấy, Lê Quý Đôn có học vấn sâu rộng và là người Việt Nam đầu tiên coi ngôn ngữ, văn tự là đối tượng để suy nghĩ, nhận thức. Ông rất coi trọng chữ Nôm, là loại chữ tượng hình của Việt Nam và ông là người đầu tiên dùng chữ Nôm trong các văn bản hành chính. Trong sáng tác, nhất là các bài văn sách, ông luôn dùng chữ Nôm. Các bài văn ấy sau này được dùng làm bài văn mẫu cho các trường Nho học mãi đến những năm đầu thế kỷ XX.

Ngoài việc là nhà nghiên cứu ngôn ngữ đầu tiên của nước ta, Lê Quý Đôn còn có hiểu biết sâu rộng ở rất nhiều lĩnh vực từ văn học, địa lý, lịch sử, triết học, tư pháp. Đặc biệt, theo nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Văn Kim, Trường Đại học KHXH và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Lê Quý Đôn là người sớm có tư duy về giá trị kinh tế biển. Ông khẳng định vị trí quan trọng của biển Việt Nam, tầm quan trọng của biển đối với sự phát triển kinh tế, và mối quan hệ giữa biển với các vùng đất, con người. Nghiên cứu và ghi chép của ông trong các tác phẩm “Phủ biên tạp lục” và “Vân đài loại ngữ” cũng cho thấy sự kết nối giữa con người và tự nhiên, đóng góp vào việc bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên biển.

Điều đáng nói là nhiều luận điểm ấy xuất hiện trước khi một số học giả phương Tây xây dựng các học thuyết nổi tiếng về chiến lược biển hàng trăm năm sau. Các công trình của ông cũng trở thành nguồn tư liệu quan trọng trong việc nghiên cứu và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là minh chứng cho một tư duy vượt trước thời đại, không chỉ giới hạn trong phạm vi học thuật mà còn gắn chặt với lợi ích quốc gia.

Không chỉ được hậu thế Việt Nam tôn vinh, Lê Quý Đôn còn nhận được sự đánh giá cao của nhiều học giả quốc tế. Giáo sư Shimizu Masaaki (Đại học Osaka, Nhật Bản) cho rằng, Lê Quý Đôn là người đầu tiên ở Việt Nam đề xuất phương pháp nghiên cứu tiếng Việt một cách có hệ thống, mở ra hướng nghiên cứu mới về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam trong giới học thuật quốc tế.

Trong khi đó, GS. TS Alexandr Ya. Sokolovskiy (Liên bang Nga) đánh giá Lê Quý Đôn là một trí thức bách khoa mang tầm quốc tế với vốn tri thức rộng lớn về tự nhiên, lịch sử, văn học và ngôn ngữ.

Đặc biệt, PGS. TS Nina V. Grigoreva (Đại học HSE, St. Petersburg) đưa ra một góc nhìn rất đáng chú ý khi đặt Lê Quý Đôn trong dòng chảy của thời đại khai sáng thế giới. Theo bà, ông hoàn toàn có thể được xem là một nhà khai sáng của Việt Nam, sống cùng thời với những tên tuổi lớn như Voltaire, Rousseau, Montesquieu hay Diderot. Nhận định này không chỉ nâng tầm vị trí của Lê Quý Đôn trong lịch sử Việt Nam mà còn đặt ông vào không gian học thuật toàn cầu của thế kỷ XVIII.

Ba trăm năm sau ngày sinh của nhà bác học Lê Quý Đôn, những tư tưởng của ông về trọng dụng nhân tài, phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa, quản trị quốc gia, nghiên cứu ngôn ngữ hay tư duy về biển vẫn mang ý nghĩa thời sự.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, khi tri thức được xem là nguồn lực quan trọng nhất, di sản của Lê Quý Đôn càng cho thấy giá trị bền vững của một nhà tư tưởng luôn coi học vấn là nền tảng của quốc gia, coi con người là trung tâm của phát triển và coi văn hóa là sức mạnh của dân tộc.

Có lẽ vì thế, sau ba thế kỷ, Lê Quý Đôn vẫn không chỉ là một danh nhân của quá khứ, mà còn là nguồn cảm hứng cho hiện tại và tương lai – một nhà bác học, một nhà khai sáng và một trí thức mang tầm vóc quốc tế của Việt Nam.