Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra ngày 29 và 30/9 tại Hà Nội với sự tham gia của 174 đại biểu đại diện cho hơn 7.000 hội viên trên cả nước. Đây là dịp để giới sử học nhìn lại chặng đường hoạt động của nhiệm kỳ qua, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới trong việc phát huy giá trị của lịch sử đối với đời sống xã hội.
Trong giai đoạn phát triển mới, một trong những câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để sử học không chỉ dừng lại ở những công trình nghiên cứu chuyên sâu mà thực sự đến được với đông đảo công chúng, góp phần củng cố lòng dân, tạo đồng thuận và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sau 60 năm hình thành và phát triển, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam có 40 hội, chi hội thành viên với gần 7.000 hội viên hoạt động tại nhiều viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan và địa phương, tham gia nghiên cứu, giảng dạy, biên soạn lịch sử, bảo tồn di sản và truyền bá tri thức lịch sử.
Báo cáo tại Đại hội, PGS.TS Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khóa VII cho biết, nhiệm kỳ qua, Hội triển khai nhiều công trình, hội thảo khoa học về lịch sử dân tộc, chủ quyền quốc gia, lãnh thổ, vùng đất Nam Bộ, danh nhân, di sản và lịch sử địa phương. Đáng chú ý, Đề án nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam gồm 30 tập đã thu hút hơn 300 nhà khoa học trong nước và một số nhà sử học nước ngoài tham gia; bộ sách đã được nghiệm thu cấp Nhà nước năm 2019. Cùng với đó, các nhà sử học tham gia tư vấn nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, xếp hạng di tích, đặt tên đường phố, quy hoạch và những dự án có liên quan đến lịch sử, văn hóa. Nhiều chuyên gia của Hội tham gia Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia và các hội đồng tư vấn ở địa phương.
Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động, một vấn đề được đặt ra là khoảng cách giữa nghiên cứu chuyên sâu và công chúng vẫn còn khá xa. Không ít công trình có giá trị chủ yếu được biết đến trong giới nghiên cứu, trong khi nhiều kết quả hội thảo chưa đi xa hơn phạm vi kỷ yếu. Trong khi đó, nhu cầu tiếp cận lịch sử của người dân, đặc biệt là giới trẻ, đang thay đổi. Công chúng cần những sản phẩm lịch sử vừa bảo đảm tính chính xác, vừa dễ tiếp cận và có khả năng khơi gợi sự quan tâm một cách tự nhiên.
Vì vậy, làm sử trong bối cảnh hiện nay không chỉ là “nghiên cứu đúng” mà còn phải “nói cho công chúng hiểu”. Cơ sở dữ liệu số, bản đồ lịch sử, phim tài liệu, podcast, chuyên trang hay các sản phẩm đa phương tiện có thể trở thành những cầu nối đưa tri thức lịch sử đến gần hơn với đời sống.
Cùng với truyền bá kiến thức, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xác định tư vấn, phản biện và giám định xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Theo định hướng được đặt ra, nhiệm kỳ VIII cần phát huy hơn nữa vai trò cung cấp luận cứ lịch sử đối với những vấn đề thực tiễn. Tiếng nói của giới sử học cần được đặt đúng vị trí trong quá trình hoạch định và thực hiện các chính sách liên quan đến lịch sử, văn hóa và di sản.
Phát biểu chỉ đạo Đại hội, ông Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực, quyết tâm và hiệu quả trong công tác Hội nhiệm kỳ qua. Đồng thờicho biết, Đại hội lần này là dấu mốc mở đầu chặng đường phát triển mới của Hội với mô hình tổ chức và yêu cầu nhiệm vụ cao hơn.
“Để Hội hoạt động thiết thực, hiệu quả trong nhiệm kỳ tới, bên cạnh việc tiếp tục phát huy những thành tích, kết quả đã đạt được của Hội trong nhiệm kỳ qua, Hội cũng cần có ngay giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế, khó khăn đã được chỉ ra trong báo cáo chính trị; tập trung triển khai thực hiện tốt phương hướng, nhiệm vụ đã được xác định trong 5 năm tới. Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chuyên môn, củng cố tổ chức, tập trung nghiên cứu, làm rõ hơn nữa những chứng lý lịch sử góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ đất nước cũng như lý luận về con đường xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Ban chấp hành Hội Khoa học lịch sử Việt Nam khóa VIII mới gồm 58 người. Ban Thường vụ 15 người. GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Các Phó Chủ tịch Hội gồm: Phó Chủ tịch Hội chuyên trách, PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ; Phó Chủ tịch Hội chuyên trách, TS. Lê Mậu Nhiệm; Phó Chủ tịch Hội không chuyên trách, TS. Phan Tiến Dũng; Phó Chủ tịch Hội không chuyên trách, GS.TS. Võ Văn Sen.
Chuyển đổi số để lịch sử đến với người trẻ
Một trong những yêu cầu được đặt ra đối với nhiệm kỳ mới là đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của Hội. Không chỉ dừng ở quản lý hội viên hay thông tin điều hành, chuyển đổi số cần được mở rộng sang xây dựng cơ sở dữ liệu sử học và phổ biến tri thức lịch sử; tăng cường kết nối giữa Trung ương Hội với các hội, chi hội thành viên trên môi trường số.
Đây cũng là cơ hội để những tư liệu, công trình nghiên cứu có giá trị được tiếp cận rộng rãi hơn. Hội có thể trở thành đầu mối kết nối các viện nghiên cứu, trường đại học, bảo tàng và hội sử học địa phương trong việc chia sẻ tư liệu, dữ liệu và các sản phẩm lịch sử có độ tin cậy cao, đồng thời tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu trẻ tham gia nhiều hơn vào không gian số.
Lịch sử không chỉ để nhớ về quá khứ - Lịch sử phải trở thành nguồn lực cho tương lai
Nhiệm kỳ VIII của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam bắt đầu trong bối cảnh đất nước đặt ra nhiều yêu cầu mới về phát huy nguồn lực con người, trí tuệ, tinh thần cống hiến và sự đồng thuận trong xã hội. Từ chiều sâu lịch sử dân tộc, những bài học về đại đoàn kết, về sức mạnh của sự đồng thuận và khả năng quy tụ các tầng lớp xã hội có thể tiếp tục được nghiên cứu, lý giải bằng những cứ liệu khoa học, qua đó đóng góp cho nhận thức và đời sống xã hội hôm nay.
Trong phương hướng nhiệm kỳ mới, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xác định: Điều quan trọng là lịch sử không chỉ được nhìn như những gì đã qua. Giá trị của lịch sử còn nằm ở khả năng giúp con người hôm nay hiểu mình đã đi qua con đường nào, vì sao có được hiện tại và cần gìn giữ, vun đắp những giá trị nào cho tương lai. Để làm được điều đó, Hội cần tiếp tục giữ vững chuẩn mực khoa học, tính trung thực và khách quan, đồng thời đổi mới cách truyền tải để tri thức lịch sử trở nên gần gũi, dễ tiếp cận hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Khi nghiên cứu được kết nối với đời sống, khi những tư liệu lịch sử được mở rộng khả năng tiếp cận bằng công nghệ và khi tiếng nói của các nhà sử học tham gia sâu hơn vào những vấn đề của xã hội, lịch sử sẽ không chỉ là ký ức về quá khứ mà có thể trở thành một nguồn lực tri thức cho hiện tại và tương lai./
