Trong bối cảnh phát triển mới, khi văn hóa không chỉ là giá trị tinh thần mà còn trở thành nguồn lực cho tăng trưởng, câu chuyện khai thác di sản như một “tài sản” đang đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiết. Nhưng làm thế nào để những giá trị của di sản không chỉ được gìn giữ, mà còn “sống”, lan tỏa và trở thành tài sản? Một trong những “chìa khóa” được các chuyên gia nhắc tới đó là sở hữu trí tuệ.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo trên nền tảng giá trị văn hóa dân tộc và cũng nhấn mạnh mục tiêu biến di sản thành nguồn lực phát triển. Có thể thấy, câu chuyện kinh tế di sản đã bước từ phạm vi học thuật sang một bài toán thực tiễn của quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng.
Tại cuộc tọa đàm mới đây do Báo Nhân dân tổ chức nhân Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 2026, sở hữu trí tuệ được nhìn nhận như một công cụ nền tảng để di sản có thể được định danh đúng, bảo hộ đúng và chuyển hóa thành tài sản có giá trị. Các chuyên gia thêm một lần nữa khẳng định, sở hữu trí tuệ là công cụ hữu hiệu giúp định danh, bảo vệ và đánh thức tiềm năng của di sản trong đời sống đương đại.
Ông Lê Quốc Minh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Tổng Biên tập báo Nhân Dân nhấn mạnh: Việt Nam sở hữu kho tàng di sản vô cùng phong phú, từ di sản vật thể, phi vật thể cho tới tri thức dân gian, làng nghề truyền thống… Tuy nhiên, nguồn lực này vẫn chưa được chuyển hóa tương xứng thành động lực phát triển kinh tế. Ông cho rằng, điểm mấu chốt nằm ở việc phải nhìn nhận lại di sản trong tư duy phát triển mới. “Di sản, nếu chỉ dừng ở lưu giữ, sẽ khó tạo sức sống mới. Nhưng nếu được nhận diện đúng, kể lại bằng ngôn ngữ của hôm nay, gắn với sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu, du lịch, giáo dục, công nghệ, thì di sản có thể mở ra không gian phát triển rất lớn”.
Theo ông Lê Quốc Minh, sở hữu trí tuệ chính là “chìa khóa” giúp biến di sản từ tài nguyên thành tài sản - có thể bảo hộ, khai thác và tạo giá trị gia tăng. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý, phát triển kinh tế di sản không đồng nghĩa với thương mại hóa bằng mọi giá, mà phải bảo đảm gìn giữ bản sắc văn hóa lâu dài.
TS. Lê Thị Minh Lý, Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia, nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hoá (Bộ VHTTDL) thì nhìn nhận kinh tế di sản như một ngành kinh tế mới đang hình thành. Muốn phát triển kinh tế di sản thì trước hết phải nhìn thấy rõ quy mô nguồn lực, mức độ chưa được khai thác tương xứng, cũng như yêu cầu cân bằng giữa khai thác và bảo tồn.
“Muốn nói câu chuyện kinh tế di sản thì chúng ta phải bắt đầu từ nền tảng. Chúng ta phải hiểu đúng về di sản, phải biết cái điểm nghẽn của cơ chế chính sách, nhận diện di sản, nhận diện tiềm năng di sản và vị trí quan trọng của di sản trong đời sống xã hội nói chung cũng như trong kinh tế di sản nói riêng thì mới tiếp cận được một cách toàn diện”, TS Lê Thị Minh Lý nhấn mạnh.
Tuy nhiên, theo TS Lê Thị Minh Lý để “đánh thức” được mỏ vàng ấy, điều quan trọng không chỉ là khai thác, mà còn là tôn trọng các nguyên tắc bảo vệ, đặc biệt với di sản phi vật thể. Bà lưu ý, việc khai thác di sản cần gắn với chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc của UNESCO, nhằm tránh nguy cơ làm biến dạng hoặc “nghèo hóa” giá trị di sản.
Nhìn từ góc độ pháp lý, Luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu Trí tuệ Bross & Partners đặt ra vấn đề về “Định danh và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong kinh tế di sản”. Ông cho rằng, một trong những “nút thắt” lớn hiện nay là việc chưa nhận diện đầy đủ các lớp tài sản trí tuệ trong di sản, nhiều giá trị trong di sản vẫn đang “vô hình” về mặt pháp lý.
“Tôi cho rằng việc phát triển về kinh tế di sản không phải là nằm định vị ở trong một đạo luật duy nhất mà thực sự sẽ phải nằm ở giao điểm của nhiều ngành luật khác nhau như Luật Di sản, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật về dữ liệu…rất nhiều đạo luật khác. Cho nên, việc đầu tiên là chúng ta phải nhận diện một cách đầy đủ hệ sinh thái của luật liên quan tới ngữ cảnh chúng ta bàn về kinh tế di sản. Nếu không định danh được, chúng ta sẽ không thể bảo hộ, không thể định giá, cũng không thể khai thác một cách bài bản. Hơn nữa, việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ cũng sẽ giúp di sản thoát khỏi tình trạng chỉ là “tài nguyên thô”, trở thành tài sản có thể tham gia vào thị trường một cách hợp pháp và bền vững".
Thực tế, trong những năm gần đây, kinh tế di sản đã và đang được thử nghiệm qua những mô hình cụ thể. Từ thực tiễn doanh nghiệp, bà Dư Thị Mai Linh, Giám đốc Chiến lược Công ty Ann Group, mang đến góc nhìn cụ thể về hành trình đưa di sản vào đời sống hiện đại. Bà Mai Linh cho rằng để biến di sản thành tài sản cần quy trình 4 bước.
“Sau nhiều năm làm việc với di sản, chúng tôi rút ra được một công thức, hay nói cách khác là một quy trình bốn bước mà chúng tôi áp dụng cho mọi dự án. Mỗi di sản đều có một hạt nhân, một biểu tượng, một câu chuyện và cảm xúc mà khi chạm vào người ta sẽ có cảm xúc với nó. Để đi từ di sản đến tài sản, cần cả một quá trình, từ nhận diện chất liệu văn hóa, sáng tạo sản phẩm, xác lập quyền cho đến xây dựng thương hiệu và hệ thống phân phối…”.
Nghị quyết về phát triển văn hóa của Quốc hội mới được thông qua đặt ra mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới. Việc gắn sở hữu trí tuệ với kinh tế di sản được xem là hướng đi tất yếu và hành trình biến di sản thành nguồn lực phát triển không phải là câu chuyện của riêng ngành văn hóa, mà là sự kết nối giữa chính sách, pháp lý, doanh nghiệp và cộng đồng.
Khi di sản được định danh đúng, được bảo vệ đúng và được khai thác bằng sự trân trọng, thì mỗi giá trị văn hóa sẽ không chỉ được gìn giữ, mà còn tiếp tục “sống” trong đời sống hôm nay như một phần của bản sắc, và cũng là động lực cho tương lai./.
