Trong dòng chảy lịch sử khoa bảng Việt Nam, dòng họ Trương là một dòng họ hiếu học, có nhiều đóng góp cho đất nước. Nhiều người dòng họ Trương đỗ đạt thành danh, trong đó có Tiến sĩ Trương Công Giai, người đảm nhận chức Tế Tửu Quốc Tử Giám ở đầu thế kỷ 18. Ông là 1 trong 3 người đỗ Tiến sĩ trẻ nhất trong lịch sử khoa bảng thời phong kiến. Ở ông, cả tài và đức đều vẹn toàn. Ông luôn nêu cao quan điểm “làm quan để giúp vua, giúp đời” và đã đem tất cả những tinh túy ấy để xây dựng nước nhà.
Theo sử sách, Trương Công Giai sinh năm 1665, tại sở Thiên Kiện, huyện Thanh Liêm, phủ Lỵ Nhân, thuộc trấn Sơn Nam Thượng xưa - nay là xã Thanh Liêm, tỉnh Ninh Bình. Theo gia phả Trương tộc, ông tự là Trương Công, sau đổi là Trương Công Giai, sinh ra trong một gia đình danh giá, ông nội là quan tri huyện Thanh Liêm Trương Chí Tín. Cha của Trương Công Giai là Trương Chí Tường là một “danh y nổi tiếng khắp miền gần xa”.
Thừa hưởng truyền thống gia đình, từ nhỏ Trương Công Giai nổi tiếng thần đồng, thuộc làu kinh sử. Năm Ất Sửu, Chính Hoà thứ 6, đời vua Lê Hy Tông (tức năm 1685), triều đình mở khoa thi, Trương Công Giai đỗ đồng Tiến sĩ tên đứng đầu bảng, khi mới 20 tuổi. TS Nguyễn Văn Tú Phó Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hoá khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho biết: “Trương Công Giai đỗ Tiến sĩ khi ông còn rất trẻ, mới tròn 20 tuổi, trẻ nhất của khoa thi này. Theo quy định về bổ nhiệm tân Tiến sĩ thì Tiến sĩ trẻ tuổi nhất thường được bổ nhiệm chức Hàn Lâm Viện Hiệu thảo. Trương Công Giai cũng vậy. Sau khi làm chức quan Hàn Lâm Viện hiệu thảo, Trương Công Giai được bổ nhiệm sang Hồng Lô Tự, chịu trách nhiệm về lễ nghi trong các khoa thi, rồi sau đó ông được bổ nhiệm nhiều chức quan nữa như Đô Ngự Sử, Tả Thị Lang Bộ Lại, Thường Thư Bộ Hình, Thương Thư Bộ Công, Tế tửu Quốc Tử Giám…”.
Cuộc đời làm quan của Tiến sĩ Trương Công Giai vừa được gọi là quan, vừa được gọi là Thầy. Đặc biệt, ông có thời gian dài kiêm chức Tế tửu Quốc Tử Giám (tương đương với hiệu trưởng ngày nay), có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nhân tài của đất nước. Trong 43 năm làm quan, Tiến sĩ Trương Công Giai đã kinh qua hơn chục chức quan. Ở chức quan nào ông cũng đảm nhiệm tốt, đặc biệt là tài xét đoán, nên phần lớn các chức quan ông đảm nhiệm là về tư pháp. Ông cũng là người biết đánh giá về tài năng, nên được cử giữ nhiều chức quan quan trọng về giáo dục, trong đó có chức Tế tửu Quốc Tử Giám.
Trải qua 43 năm liên tục cống hiến sức lực trí tuệ cho đất nước, phục vụ 4 đời vua Lê, 3 đời chúa Trịnh, cuộc đời Trương Công Giai cũng từng trải qua thăng trầm quyền chức. Bị giáng chức vì sơ xuất trong công việc quản lý rồi lại được phục chức Hình bộ Thượng thư. Nhưng dù ở trong tình thế nào, Trương Công Giai cũng giữ sự liêm khiết, tận tuỵ. Nhắc đến Trương Công Giai, không thể không nhắc đến 4 chữ: “Quan tiết bất đáo” (có nghĩa: quan thanh liêm và khí tiết không nhận của gian phi) do chính tay ông viết lên bức hoành phi treo trước cửa công đường nơi ông thực thi công việc, nó thể hiện thái độ và tư tưởng làm quan của một vị quan thanh liêm, chính trực thế kỷ 18.
Tiến sĩ, Tế tửu Quốc Tử Giám Trương Công Giai không chỉ góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước mà ông còn để lại nhiều tác phẩm bia ký và văn thơ. Tiến sĩ Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm cho biết, chỉ tính riêng các tác phẩm được khắc trên bia đá, khảo sát tại kho thư tịch của Viện nghiên cứu Hán Nôm còn lưu được 4 tác phẩm do Trương Công Giai biên soạn. Đó là: “Báo ân ký” (nghĩa là bia ghi báo ơn) được đặt ở chùa Thiên Tâm, xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Tác phẩm thứ hai mang tên “Hậu thần bi kí” được tạo năm 1706 đặt tại đình Gia Lộc, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, nay là Đông Anh, Hà Nội. Tác phẩm thứ 3 được tạo năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (tức năm 1715) được đặt tại đình thôn Quang Hiển, xã Nhân Hiền, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông. Tác phẩm thứ tư là “Báo đức bi ký” (nghĩa là bia ghi báo đáp công đức) được dựng năm 1723 tại chùa xã Phú Điền, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay là xã Thanh Oai, Hà Nội.
Ngoài những tác phẩm bia ký, Tiến sĩ Trương Công Giai còn để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm văn thơ, trong đó nổi bật là cuốn “Thanh Thiên thi tập”, gồm 75 bài thơ và 35 đôi câu đối. Thông qua tác phẩm, ông đã thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của mình trong thời gian làm quan, về sự vật hiện tượng thời cuộc xung quanh mình.
Cuộc đời và sự nghiệp làm quan của Tiến sĩ Trương Công Giai đã được ghi nhận không chỉ trong tư liệu chính sử mà còn được thể hiện qua chính những tác phẩm của ông. Trương Công Giai đã mượn những sáng tác thơ của mình để nói lên quan điểm của mình, chẳng hạn như 2 câu thơ trong bài “Mùa xuân” : “Hữu chân, hữu thiện văn thường mỹ/ Tri bỉ, tri kỷ sự tất thành”, được dịch nghĩa là: Có chân, có thực văn thường đẹp/ Biết bạn, biết mình, việc ắt thành.
Với những cống hiến không nhỏ, ông được triều đình phong tặng tước Lỵ Quận công. Ông còn được phong là Thành Hoàng làng và được thờ tại đình Trà Châu xã Thanh Liêm ngày nay. Ông mất ngày mồng 8 tháng 2 năm Mậu Thân, Bảo Thái thứ 9 (tức năm 1728) và được phong hàm Thiếu bảo.
Hiện nay, tại đền thờ quan Thượng Trương Công Giai ở Thanh Tâm, xã Thanh Liêm, tỉnh Ninh Bình còn treo một bức đại tự 4 chữ “Quan tiết bất đáo”. Danh thần, Tế tửu Quốc Tử Giám, Tiến sĩ Trương Công Giai đã để lại cho đời một tấm gương tiết tháo của con người có tấm lòng chân thực, vì nước, yêu dân. Ghi nhớ công ơn của danh thần Trương Công Giai tên của ông đã được đặt cho đường phố và trường học.
