Giáo viên tin học - điểm trường nào cũng biết, phân hiệu nào cũng đi
Trường Tiểu học Thần Sa được hình thành trên cơ sở sáp nhập ba trường tiểu học Thần Sa, Lũng Luông và Thượng Nung. Sau sắp xếp, trường có một điểm chính, hai phân hiệu và sáu điểm trường lẻ, với 34 lớp, gần 500 học sinh, chủ yếu là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Điểm trường xa nhất cách trường chính 19 km, địa hình chia cắt bởi đồi dốc và khe suối.
Theo cô Nguyễn Thị Bích Thủy, Phó hiệu trưởng Trường Tiểu học Thần Sa, sau sắp xếp các cơ sở giáo dục, số lượng đầu mối và cán bộ quản lý giảm, giáo viên tại các điểm trường giữ ổn định. Chương trình giáo dục thực hiện theo chỉ đạo thống nhất, các hoạt động chung được tổ chức thông qua hình thức trực tuyến.
Quy mô trường học lớn hơn, song khoảng cách địa lý vẫn là trở ngại trong tổ chức dạy học, nhất là với những môn đặc thù cần giáo viên chuyên trách. Nhà trường hiện chỉ có một giáo viên tin học phụ trách các lớp từ lớp 3 đến lớp 5.
Nhà trường đã triển khai dạy học kết nối giữa điểm chính và phân hiệu. Tuy nhiên, tại các điểm lẻ, hệ thống trang thiết bị phục vụ dạy còn khó khăn, đường truyền chưa ổn định, thậm chí tại một số điểm trường sóng điện thoại và mạng internet lúc có lúc không. Để đảm bảo chương trình, giáo viên phải di chuyển qua lại giữa các điểm trường với thời khóa biểu linh hoạt.
Ví dụ, buổi sáng giáo viên tin học giảng dạy ở trường chính, chiều điểm về lẻ cách 5-6km. Ở một ngày khác, giáo viên được bố trí dạy tại phân hiệu Lũng Luông buổi sáng, còn buổi chiều về điểm trường Lũng Cà cách 2-3km để thuận tiện cho việc lên lớp.
“Với cô giáo tin học, điểm trường nào cũng biết, phân hiệu nào cũng phải đi”, cô Nguyễn Thị Bích Thủy chia sẻ.
Ở các xã miền núi, địa hình chia cắt, giao thông khó khăn khiến việc di chuyển giữa các điểm trường trở thành thách thức thường xuyên. Trường Mầm non Văn Lăng hiện có 1 phân hiệu và 6 điểm trường lẻ, cách điểm trường trung tâm từ 4-13 km.
Trước đây, Ban giám hiệu có 3 người phụ trách một điểm trường chính và sáu điểm trường lẻ. Sau sáp nhập, nhà trường bố trí 1 hiệu phó quản lý tại phân hiệu. Điểm trường trung tâm và 6 điểm lẻ được phụ trách bởi 2 cán bộ quản lý khác.
Như vậy, số đầu mối quản lý tinh gọn nhưng phạm vi phụ trách rộng hơn, trong khi yêu cầu theo sát hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ vẫn phải được bảo đảm. Theo cô Nguyễn Thị Lệ, Hiệu trưởng nhà trường, vì không có cán bộ quản lý thường xuyên tại các điểm lẻ, ban giám hiệu chia nhau đến thăm và triển khai công tác chăm sóc, giáo dục trẻ.
Nhiều điểm trường xa, thậm chí có điểm lẻ ở khu vực núi cao cách 13 km, việc di chuyển khó khăn, mỗi lần lên và làm việc phải mất gần một ngày.
“Ví dụ, mỗi lần tới điểm trường lẻ Liên Phương – nơi sinh sống của 100% đồng bào Mông (cách trường chính khoảng 10 km), thầy cô trong ban giám hiệu cũng mất gần một ngày”, cô Lệ chia sẻ.
Trường phổ thông dân tộc bán trú THCS Thần Sa được sáp nhập với Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Thượng Nung. Sau sắp xếp, quy mô nhà trường tăng gấp đôi với 12 lớp và 373 học sinh; khoảng cách giữa điểm trường chính và phân hiệu khoảng 10 km, giao thông đi lại còn nhiều trở ngại.
Cô Đinh Thị Phương Hằng, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết việc giảm đầu mối giúp tinh gọn tổ chức, nhưng cũng đặt ra áp lực đối với đội ngũ cán bộ quản lý.
“Trước đây, 3 cán bộ quản lý chia nhau trực trong tuần. Nay, với 2 phó hiệu trưởng và 1 hiệu trưởng, có những đồng chí phải trực gần như cả tuần”.
Theo cô Hằng, năm nay nhà trường linh hoạt bố trí thêm các tổ trưởng chuyên môn tham gia công tác quản lý. Tuy nhiên, cách làm này vẫn chưa thể giải quyết hết các công việc, bởi có những vấn đề liên quan đến quản lý học sinh mà tổ trưởng không thể xử lý thay hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng.
Với đặc thù trường bán trú, việc sắp xếp giáo viên, lịch trực quản lý học sinh ăn nghỉ tại trường giữa hai địa bàn trở thành trở ngại khi giáo viên trực bán trú không thể qua lại giữa 2 trường để tăng cường cho nhau. “Có ca trực, điểm trường này bố trí được 3 người nhưng điểm trường bên kia chỉ có 2 người. Vì hai địa điểm cách xa nhau nên cũng không thể điều động giáo viên sang hỗ trợ kịp thời”.
Từ thực tế đó, cô Đinh Thị Phương Hằng mong muốn có điều kiện tập trung học sinh về một địa điểm nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý học sinh.
“Hiện, điểm trường chính và phân hiệu đều tổ chức bán trú với 99,9% học sinh nhà trường là con em đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện gia đình khó khăn. Chúng tôi mong thành lập được trường phổ thông dân tộc bán trú về một điểm, không có phân hiệu nữa. Hoặc, nâng cấp lên thành trường nội trú”, cô Hằng mong muốn.
Đẩy mạnh chuyển đổi số
Để nhanh chuyển từ mô hình quản lý sang quản trị giáo dục và khắc phục khó khăn về khoảng cách giữa các điểm trường, phân hiệu sau sắp xếp, chuyển đổi số đang được các trường ở xã miền núi Thái Nguyên đẩy mạnh nhằm tăng cường kết nối, nâng cao hiệu quả điều hành và sinh hoạt chuyên môn.
Cô Nguyễn Thị Bích Thủy, Phó hiệu trưởng Trường Tiểu học Thần Sa cho biết, giáo viên phải làm việc với tiến độ nhanh hơn, cập nhật thông tin thường xuyên hơn trong các hoạt động và chỉ đạo chung. Năm nay, khi thực hiện bộ SGK dùng chung, giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài học, cập nhật dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy sao cho phù hợp.
Việc sắp xếp mạng lưới trường lớp cũng hướng tới sử dụng hiệu quả hơn đội ngũ giáo viên và nâng cao chất lượng dạy học. Ông Nguyễn Minh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Thần Sa, cho biết từ 7 trường ban đầu, sau sắp xếp toàn xã hiện còn 3 trường theo các cấp học mầm non, tiểu học và THCS. Địa phương tiếp tục phối hợp với các nhà trường khắc phục khó khăn trong quá trình vận hành sau sắp xếp.
“Các nhà trường đã chủ động bố trí thời gian, bảo đảm đầy đủ chương trình, không để những vướng mắc trong quá trình sắp xếp ảnh hưởng đến công tác giáo dục”.
Ông Nguyễn Quang Huy – Phó Chủ tịch UBND xã Văn Lăng đánh giá, qua sắp xếp, bộ máy được tinh gọn, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý. Đồng thời, việc bố trí, sử dụng giáo viên linh hoạt và hiệu quả hơn. Đối với những môn học cần giáo viên chuyên trách, nhà trường có thể bố trí giáo viên giảng dạy tại nhiều phân hiệu, điểm trường, qua đó sử dụng đội ngũ phù hợp hơn với nhu cầu thực tế.
Tuy nhiên, quá trình sắp xếp cũng đặt ra một số khó khăn, chẳng hạn khoảng cách từ phân hiệu, điểm lẻ đến trường chính còn khá xa, gây trở ngại cho công tác lãnh đạo, quản lý. Địa phương đã nắm bắt tình hình, phối hợp với ban giám hiệu các trường trao đổi, thống nhất biện pháp khắc phục.
Trong đó, xây dựng lịch công tác khoa học, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên ban giám hiệu, bảo đảm các điểm trường, phân hiệu có thể duy trì hoạt động ổn định, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đến nay, bộ máy cơ bản vận hành ổn định, đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ đề ra.
Bên cạnh đó, các nhà trường đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành, quản lý hoạt động chuyên môn; sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo, trợ lý ảo để hỗ trợ công tác quản lý, điều hành. Nhờ đó, thời gian xử lý công việc được rút ngắn, việc sắp xếp và triển khai nhiệm vụ cũng khoa học, chính xác hơn./.
