Đau lòng, phẫn nộ. Tôi tin đó là cảm xúc của bất kỳ ai khi đọc thông tin về các vụ bạo hành trẻ em xảy ra liên tiếp gần đây. Từ một đứa trẻ 4 tuổi bị đánh đến tử vong đến một bé trai 2 tuổi thân hình bầm dập với nhiều vết thương chằng chịt sau những trận đòn của mẹ ruột cùng nhân tình… Đặc biệt đáng báo động là trong rất nhiều vụ việc xảy ra, nạn nhân sống trong các gia đình có cha dượng, mẹ kế, hoặc những mối quan hệ chắp vá đầy bất ổn. Dẫu không phải gia đình không trọn vẹn nào cũng có bạo lực nhưng rõ ràng, trẻ em trong những môi trường ấy dễ trở thành đối tượng bị tổn thương nhất: không tiếng nói, không khả năng tự vệ, không nơi nương tựa.
Có những người mẹ vì áp lực mưu sinh, vì lệ thuộc tình cảm hoặc kinh tế mà làm ngơ trước việc con mình bị hành hạ. Có người còn tiếp tay cho bạo lực chỉ để giữ một mối quan hệ không biết có ngày mai. Sự im lặng của người lớn trong những trường hợp ấy đôi khi còn nhẫn tâm hơn cả roi vọt. Nhưng nếu chỉ đổ lỗi cho những hành động dã man, sự vô trách nhiệm của cá nhân thì vẫn chưa đủ.
Có lẽ thay vì đặt câu hỏi “vì sao thủ phạm ác đến vậy?” thì thiết nghĩ, một câu hỏi day dứt hơn cần đặt ra: “Vì sao không ai cứu những đứa trẻ ấy sớm hơn?”
Các em bị đánh đập nhiều lần, bị chửi rủa nhiều tháng, bị hành hạ trong thời gian dài. Những tiếng khóc ấy chắc chắn đã vọng qua vách tường. Những vết bầm tím trên cơ thể các em chắc chắn đã từng bị nhìn thấy. Người thân biết. Hàng xóm cũng có thể biết. Và thậm chí có khi giáo viên cũng lờ mờ nhận ra điều bất thường. Nhưng phản ứng phổ biến nhất vẫn là im lặng. “Chuyện gia đình người ta…”, “Mình xen vào lại phiền hà…” “Thôi kệ đi…”. Chính sự thờ ơ ấy đang trở thành đồng phạm vô hình của bạo hành trẻ em.
Có một nghịch lý đáng sợ trong xã hội hiện đại, người ta có thể phản ứng dữ dội trên mạng xã hội, nhưng lại rất vô cảm ngoài đời thực. Hàng nghìn bình luận phẫn nộ, đòi trừng trị nghiêm minh hung thủ xuất hiện sau mỗi vụ án bạo hành trẻ em. Nhưng thử hỏi, trước khi đứa trẻ ấy tử vong hay bị hành hạ dã man, có mấy người đủ can đảm gõ cửa căn nhà ấy? Có mấy người chủ động báo chính quyền hay gọi tới đường dây nóng bảo vệ trẻ em? Có mấy người chấp nhận “xía vào chuyện người khác” để cứu một sinh mạng? Sự phẫn nộ, lên án của dư luận là cần thiết nhưng nếu chỉ đến sau khi bi kịch xảy ra, xét cho cùng, chỉ là sự lên tiếng muộn màng.
Ngoài ra một thực tế đáng lo hơn là cơ chế phản ứng sớm với bạo lực trẻ em của chúng ta đang quá yếu và quá chậm. Ở nhiều nơi, bảo vệ trẻ em vẫn là khẩu hiệu nhiều hơn hành động. Sau mỗi vụ án đau lòng, các cơ quan liên quan lại họp hành, rút kinh nghiệm, rồi yêu cầu chấn chỉnh tăng cường trách nhiệm. Nhưng rồi khi bi kịch lắng xuống đâu lại vào đó.
Dù đường dây nóng trẻ em đã hiện hữu nhưng không phải ai cũng biết. Thậm chí cán bộ cơ sở có nơi còn xem việc bạo hành trẻ em là “mâu thuẫn gia đình”. Những dấu hiệu cảnh báo sớm không được theo dõi, không được kết nối dữ liệu, không có cơ chế can thiệp kịp thời. Trong khi đó, trẻ em là nhóm yếu thế nhất. Các em không thể tự chạy đến đồn công an để tố cáo cha dượng, không thể tự mình thoát khỏi căn nhà khi bị bạo hành, cũng không thể tự gọi ai để cầu cứu...
Nếu xã hội không chủ động dang tay chở che, các em hoàn toàn cô độc. Nếu người lớn tiếp tục đứng ngoài cuộc, những tiếng khóc và nỗi đau sau cánh cửa khép kín sẽ còn tiếp diễn. Và khi ấy, mọi lời phẫn nộ, mọi sự lên tiếng không thể trả lại cơ hội sống cho một đứa trẻ đã bị bỏ lại quá lâu trong bạo lực.
