Cần cơ chế hợp tác “ba nhà”

Trao đổi về thực trạng và nhu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao về công nghệ sinh học, PGS.TS Phạm Thế Hải – Trưởng khoa Sinh học, Trường ĐH Khoa học Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội nêu nhiều tồn tại. Trong đó, chương trình đào tạo chưa bám sát nhu cầu doanh nghiệp, chưa có những chương trình đào tạo hướng đến người học xuất sắc, tài năng.

Việc thiết kế chương trình đào tạo cũng chưa tích hợp đầy đủ sự tiến bộ của cách mạng công nghiệp 4.0. Bên cạnh đó, chưa có chương trình học bổng phù hợp thu hút người xuất sắc, tài năng. Quá trình đào tạo chưa có sự quan tâm đến kỹ năng sáng tạo hay khởi nghiệp.

Đội ngũ cán bộ giảng dạy còn thiếu hoặc chưa đồng bộ. Tương tự, cơ sở vật chất lạc hậu hoặc là chưa đáp ứng được việc kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu.

Quan trọng, chương trình đào tạo chưa tạo ra sự kết nối với các đơn vị, cơ sở sản xuất. Trong khi đó sinh viên cần trải nghiệm thực tế để đảm bảo có thể làm việc trực tiếp tại các cơ sở sản xuất ngay khi ra trường.

Từ thực tế này, Bộ GD-ĐT chủ trương thành lập mạng lưới đào tạo xuất sắc công nghệ sinh học. Qua đó, hình thành hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng; Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công nghiệp sinh học và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, mạng lưới góp phần phát triển nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực này, kết nối giữa trường, viện, doanh nghiệp. Đồng thời, chuyển giao và tiếp cận công nghệ trình độ quốc tế.

Ngày 1/8/2025, mạng lưới chính thức được công bố. Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội được giao làm đầu mối phát triển mạng lưới. Đến thời điểm hiện tại, mạng lưới đã kết nối được 22 đơn vị bao gồm các trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện và doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước.

Sau khi thành lập, mạng lưới đã triển khai nhiều hoạt động. Ví dụ, thành lập một số nhóm nghiên cứu liên quan công nghệ sinh học trong nông nghiệp và y sinh; xây dựng một số chương trình mới như: Sinh học tổng hợp phục vụ tăng trưởng xanh; cùng các bộ ngành xây dựng một số đề án lớn…

Mạng lưới đã ký 5 biên bản ghi nhớ (MOU) với các đối tác khác nhau thuộc nhiều lĩnh vực, có các hợp đồng dịch vụ phát triển sản phẩm hoặc hợp đồng khóa đào tạo. Về đào tạo, triển khai hợp tác nhằm tăng cường thực hành, thực tập cho sinh viên, phát triển những chương trình đào tạo mới…

PGS.TS Phạm Thế Hải cho rằng, để phát triển mạng lưới cần sự định hướng từ Bộ GD-ĐT, những chương trình hỗ trợ rõ ràng. Các thành viên trong mạng lưới cần được hỗ trợ nâng cấp về cơ sở vật chất. Đặc biệt, cần có cơ chế cho việc hợp tác “ba nhà”.

Kết nối khu vực nghiên cứu với khu vực sản xuất

PGS.TS Phí Quyết Tiến – Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng sự kết nối giữa “ba nhà” - nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và Nhà nước vẫn còn điểm nghẽn.

Trong đó, việc đặt hàng đối với các trung tâm xuất sắc còn phân mảnh, hoạt động đầu tư cũng tương tự. Vì vậy, cần chia sẻ phương thức kết nối giữa các trung tâm xuất sắc, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước.

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, sự kết nối giữa doanh nghiệp với các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, viện nghiên cứu và trường đại học vẫn còn hạn chế. Vì vậy, cần có cơ chế đặt hàng và phát triển sản phẩm phù hợp.

Bên cạnh đó, ông Tiến cho rằng việc gắn kết nghiên cứu với doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ sinh học, mở rộng quy mô và chuẩn hóa quy trình sản xuất vẫn là những “điểm nghẽn” trên thực tế.

Nghị quyết số 36 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định công nghệ sinh học là một động lực phát triển bền vững kinh tế đất nước. Để triển khai Nghị quyết 36, Nghị quyết số 189 của Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành liên quan.

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị góp phần tháo gỡ vấn đề còn tồn tại trong việc kết nối các trung tâm xuất sắc với doanh nghiệp và khối sản xuất, nhằm chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành các sản phẩm có giá trị thương mại, sản phẩm ứng dụng và sáng chế.

Ông Tiến cho biết, trong năm 2025, Viện Công nghệ Sinh học công bố khoảng 256 bài báo khoa học thuộc danh mục SCIE và đăng ký 33 sở hữu trí tuệ, gồm sáng chế và sở hữu trí tuệ khác.

Viện tập trung vào 8 hướng nghiên cứu mũi nhọn, gắn với khả năng ứng dụng trong thực tiễn, bao gồm công nghệ vi sinh vật và enzyme, y sinh, công nghệ gen; hướng đa dữ liệu omics cũng đang được quan tâm.

Viện có các trung tâm sản xuất vaccine và các sản phẩm sinh học như kháng nguyên, kháng thể đơn dòng; công nghệ tế bào, sinh học phân tử, chẩn đoán ứng dụng trong nông nghiệp và công nghệ môi trường.

Qua thực tiễn triển khai, PGS.TS Phí Quyết Tiến cho rằng “điểm nghẽn” hiện nay là việc chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm phục vụ doanh nghiệp và thị trường vẫn còn yếu.

Chúng ta cũng chưa đăng ký nhiều bản quyền, chuyển giao bí quyết công nghệ cũng như chưa chú trọng đầy đủ đến đào tạo phát triển công nghệ từ nhu cầu đặt hàng.

Thực tế, nhiều nghiên cứu vẫn đang phát triển theo những hướng mà mình có lợi thế. Do đó, việc quay trở lại với nhu cầu đặt hàng của doanh nghiệp và những phản hồi từ thị trường vẫn là định hướng cần được chú trọng trong giai đoạn tiếp theo.

Các trường đại học trong mạng lưới trung tâm xuất sắc cần kết nối tốt hơn với các nhà đầu tư, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Ông Tiến cho rằng, nên cân nhắc việc tổ chức các đơn vị kết nối khu vực nghiên cứu với khu vực sản xuất. Đây cũng là mô hình mà các chuyên gia Hàn Quốc hướng tới. Trong đó, các mô hình ươm tạo công nghệ đóng vai trò quan trọng./.